View Full Version: Vai tṛ của NAQ trong việc thành lập ĐCSVN

Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu > Lịch sử Đảng > Vai tṛ của NAQ trong việc thành lập ĐCSVN


Title: Vai tṛ của NAQ trong việc thành lập ĐCSVN
Description: Đây là nội dung KT 30% của TĩnKT7A


my_hidden_charm - September 10, 2007 04:55 PM (GMT)
Đề bài: Làm rơ vai tṛ của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Bài làm
“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử Cách mạng Việt Nam, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đă trưởng thành và đủ sức lănh đạo cách mạng ”(Hồ Chí Minh - V́ độc lập tự do, v́ chủ nghĩa xă hội - NXB Sự Thật, 1960, trang 210).
Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam gắn liền với vai tṛ của lănh tụ Nguyễn Ái Quốc - người trực tiếp chuẩn bị về mặt tổ chức, chính trị tư tưởng cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, đồng thời chủ tŕ hội nghị thành lập Đảng.
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ, th́ đồng chí Nguyễn Ái Quốc, bằng thiên trí tuệ và nhăn quan chính trị sắc bén đă ra đi t́m đường cứu nước theo phương hướng mới.
Dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười, Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và ảnh hưởng của cuộc đấu tranh thành lập Đảng cộng sản Pháp..., chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lư cách mạng của thời đại đă sớm được khẳng định trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người xác định con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam là: giải phóng giai cấp vô sản mới thực sự giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới .
Từ khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đă xúc tiến mạnh mẽ việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào giải phóng dân tộc và phong trào vô sản ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, Người cũng đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cách mạng Việt Nam, đặc biệt là cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mặt tổ chức.
Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số chiến sĩ cách mạng ở các nước Angiêri, Mađagátxca, Xênêgan, Tuynidi, Marốc, Đahômây v.v..sáng lập ra Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari, trong đó Hội người Việt Nam yêu nước ở Pháp làm ṇng cốt, nhằm tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa thực dân.
Tháng 6 nǎm 1923, đồng chí Nguyễn ái Quốc rời nước Pháp đến Mátxcơva để tham dự Hội nghị nông dân quốc tế lần thứ nhất (10-1923); đồng thời trực tiếp học tập, nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngày 17-6-1924, đồng chí được Trung ương Đảng cộng sản Pháp uỷ nhiệm tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản. Sau đó, đồng chí c̣n tham gia các đại hội Quốc tế công hội đỏ, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế thanh niên, Quốc tế cứu tế đỏ. Tại các Đại hội quốc tế nói trên, đồng chí Nguyễn Ái Quốc tiếp tục làm rơ những quan điểm của ḿnh về vai tṛ lịch sử của giai cấp vô sản thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào cách mạng ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và nêu rơ sự cần thiết phải thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc trước khi xoá bỏ chế độ thối nát này trên toàn thế giới.
Ngày 11 - 11- 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu. Người đă cùng những nhà lănh đạo cách mạng Trung Quốc, Triều tiên, Ấn độ, Thái lan, indônêxia...thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á đông.
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, trong đó có tổ chức trung kiên là Cộng sản đoàn làm hạt nhân để trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bi điều kiện cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản Việt Nam. Người đă trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo được hơn 200 cán bộ cách mạng. Trong số này, nhiều người được chọn đi học trường Đai học phương Đông ở Liên Xô (Trần Phú, Lê Hông Phong, Hà Huy Tập, v.v..), một số được cử Vào học quân sự ở trường Hoàng Phố (Trung Quốc) như Trương Vân Lệnh, Phùng Chí Kiên, c̣n phần lớn đưa về nước hoạt động. Người cho ra tờ báo Thanh niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội.
Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mặt chính trị tư tưởng.
Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa.
Người viết nhiều bài đăng trên các báo: "Người cùng khổ, "Đời sống công nhân,"Nhân đạo", tạp chí "cộng sản", "thư tín quốc tế", đặc biệt là năm 1925 người viết tác phẩm "bản án chế độ thực dân Pháp" đă gây tiếng vang và ảnh hưởng lớn đến các phong trào yêu nước ở trong nước và các thuộc địa. . .
Trong nội dung của các bài báo, các tác phẩm, Người đều tập trung lên án chủ nghĩa thực dân, vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bóc lột, đàn áp tàn bạo của chúng. Người tố cáo đanh thép trước thế giới và nhân dân Pháp tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các thuộc địa và thức tỉnh ḷng yêu nước, ư chí phản kháng của các dân tộc thuộc địa.
Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm lư luận đầu tiên của cách mạng nước ta, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Nhờ tác phẩm đó và các bài viết của đồng chí Nguyễn ái Quốc, nhân dân ta, trước hết là những người trí thức tiểu tư sản yêu nước, tiến bộ đă hướng về và tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc phác thảo đường lối cứu nước, thể hiện tập trung trong tác phẩm "Đường kách mệnh". Đầu nǎm 1927, cuốn Đường kách mệnh gồm những bài giảng của Người trong các lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu, được Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á - Đông xuất bản. Trong tác phẩm quan trọng này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc nêu ra những tư tưởng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
Tác phẩm phân tích những hạn chế của cách mạng tư sản ở Mỹ (1776), ở Pháp (1789) và khẳng định chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để.
Đường kách mệnh chỉ rơ đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam là tư bản đế quốc chủ nghĩa, phong kiến địa chủ; đồng thời, chỉ rơ động lực và lực lượng cách mạng: "công nông là gốc cách mệnh c̣n học tṛ, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông".
Đường kách mệnh chỉ rơ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cần được sự giúp đỡ quốc tế, nhưng “muốn người ta giúp cho th́ trước hết ḿnh phải tự giúp ḿnh cái đă”. Mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa có mối quan hệ khăng khít với nhau. Phải thực hiện sự liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và chính quốc. Đặc biệt Người chỉ rơ, cách mạng thuộc địa có tính chủ động, độc lập, có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc, góp phần đẩy mạnh cách mạng ở chính quốc.
Đường kách mệnh khẳng định, muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mạng mới thành công, Đảng cần lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm kim chỉ nam.
Hội VN cách mạng thanh niên và tác phẩm "Đường Kách Mệnh" đă trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng vô sản ở VN, dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở VN: Đông Dương cộng sản đảng (6-1929), An nam cộng sản đảng (7-1929), Đông dương cộng sản liên đoàn (1-1930).
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ tŕ hội nghị hợp nhất Đảng.
Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản lúc bấy giờ là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cộng sản trên đă nhanh chóng xây dựng cơ sở Đảng trong nhiều địa phương, và trực tiếp lănh đạo, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân. Phong trào công nhân kết hợp chặt chẽ với phong trào của nông dân chống sưu cao thuế nặng, chống cướp ruộng đất, phong trào băi khoá của học sinh, băi thị của tiểu thương, tạo thành một làn sóng mạnh đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ khắp trong cả nước.
Nhưng trong một nước có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng của nhau, gây nên một trở ngại lớn cho phong trào cách mạng. T́nh h́nh đó nếu để kéo dài sẽ có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết là phải có một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước.
Trước t́nh h́nh đó, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề phong trào cách mạng ở Đông Dương đă thống nhất các lực lượng cộng sản ở Việt Nam để thành lập một Đảng duy nhất.
Từ ngày 3 đến 7 -2-1930, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đă họp ở Cửu Long( Hương Cảng, Trung Quốc). Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản chủ tŕ hội nghị. Tham gia hội nghị có 2 đại biểu Đông Dương cộng sản đảng, 2 đại biểu của An Nam cộng sản Đảng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, hội nghị hoàn toàn nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo. Nhân dịp thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc viết lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, học sinh, anh chị em bị bóc lột hăy gia nhập Đảng, đi theo Đảng để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và tư sản phản cách mạng “làm cho nước An Nam được độc lập”.
Như vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong thời đại mới; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; là kết quả của quá tŕnh lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử; là kết quả của quá tŕnh chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các chiến sĩ cách mạng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta.

my_hidden_charm - September 10, 2007 05:10 PM (GMT)
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN)- Bạn Trần Vũ Quỳnh Như (Emai: hoathuytinhct1993@yahoo.com) hỏi: Tôi muốn biết Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập như thế nào? Ở đâu?

Trả lời:

Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ thống trị rất tàn bạo. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đă liên tiếp đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai, dưới sự lănh đạo của các sĩ phu và các nhà yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Song các phong trào đấu tranh đó đều thất bại, nguyên nhân chủ yếu là chưa t́m được con đường cứu nước đúng đắn, chưa có một lực lượng xă hội, một giai cấp tiên tiến và một tổ chức cách mạng chặt chẽ đủ sức lănh đạo phong trào. Cách mạng Việt Nam đứng trước sự bế tắc và khủng hoảng về đường lối cứu nước.

Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc - người con ưu tú của dân tộc Việt Nam ra đi t́m đường cứu nước. Sau 10 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể đă bắt gặp được chủ nghĩa Mác-Lênin và t́m được con đường cứu nước đúng đắn, Người nói: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản". Đây là bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến quyết định mở đường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc đă truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách Mệnh để tuyên truyền, giáo dục bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tiếp tục chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.

Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, tại Quảng Châu - Trung Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản được triệu tập dưới sự chủ tŕ của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong thời đại mới; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; là kết quả của quá tŕnh lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử; là kết quả của quá tŕnh chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các chiến sĩ cách mạng đứng đầu là Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Chào thân ái!

my_hidden_charm - September 10, 2007 05:12 PM (GMT)
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam dưới sự chủ tŕ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại Cửu Long, gần Hương Cảng (Trung Quốc) mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đă đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, vạch ra đường lối giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xă hội của cách mạng Việt Nam. Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng là đồng chí Trần Phú.

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng (từ ngày 27 đến 31-3-1935): Củng cố, phát triển lực lượng lănh đạo toàn dân giành chính quyền.

Sau cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931, thực dân Pháp đă tăng cường đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, tiêu diệt những người cộng sản. Tổng Bí thư Trần Phú cũng bị bắt và đă anh dũng hy sinh. Cơ quan đầu năo của Đảng không c̣n.

Theo chỉ đạo của Quốc tế cộng sản, tháng 3-1934, Ban chỉ huy ở nước ngoài (Ban hải ngoại) của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập do đồng chí Lê Hồng Phong làm Thư kư (Bí thư), Ban hải ngoại của Đảng đă giữ vai tṛ lănh đạo và tổ chức lại cơ quan Trung ương của Đảng, chuẩn bị Đại hội I của Đảng.

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935. Dự Đại hội có 13 đại biểu thuộc các đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài.

Đại hội đă nêu ra nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng trong thời gian trước mắt là: củng cố và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng răi, chống chiến tranh đế quốc.

Đại hội đă thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng, các Nghị quyết về vận động công nhân, vận động nông dân, vận động thanh niên, phụ nữ, binh lính, về mặt trận phản đế, về đội tự vệ, về các dân tộc ít người... và Điều lệ của Đảng, điều lệ của các tổ chức quần chúng của Đảng.

Đại hội đă bầu ra Ban chấp hành Trung ương Đảng, gồm 13 đồng chí. Ban Thường vụ có 5 đồng chí. Đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Thư kư (Tổng Bí thư). Ban chấp hành Trung ương Đảng đă cử đồng chí Nguyễn ái Quốc làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản.

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh ǵn giữ và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ cơ sở đến Trung ương. Đây là một điều kiện cơ bản và cần thiết để Đảng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới.


Tháng 7-1936, đồng chí Lê Hồng Phong chủ tŕ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) để xác định chủ trương mới của Đảng về các vấn đề chiến lược và sách lược cách mạng ở Đông Dương. Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị cử đồng chí Hà Huy Tập về nước tổ chức lại Ban Trung ương và giữ chức Tổng Bí thư.

Sau Đại hội I, việc củng cố tổ chức đảng, phát triển Đảng và phong trào quần chúng có chuyển biến mạnh mẽ. Sự chuyển hướng các h́nh thức hoạt động, sử dụng cả hợp pháp, nửa hợp pháp, đồng thời coi trọng công tác bí mật và đấu tranh bất hợp pháp trong phong trào Mặt trận dân chủ 1936-1939, đă tập hợp đông đảo quần chúng đấu tranh giành quyền dân chủ, dân sinh, chống phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ ḥa b́nh.

Tháng 3-1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị quyết định mở rộng hơn nữa Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương. Tại Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng, sau đó được bầu làm Tổng Bí thư.


Tháng 11-1939, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị dưới sự chủ tŕ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, quyết định điều chỉnh sự chỉ đạo chiến lược cách mạng Đông Dương cho phù hợp hoàn cảnh mới. Từ đó, phong trào cách mạng trong cả nước diễn ra sôi nổi, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến ở Đông Dương liên tiếp nổ ra, báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc của nhân dân ta.

Đặc biệt, từ ngày 28-1-1941, Bác Hồ về nước và chủ tŕ Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 đă quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, cho ra đời Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh). Hội nghị bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Sau hội nghị, công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang được coi là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhân dân ta. Cao trào kháng Nhật cứu nước đă diễn ra sôi nổi, phong phú về nội dung và h́nh thức. Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) đă quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền và đă thành công.

Các Tổng Bí thư của Đảng thời kỳ này: Lê Hồng Phong (tháng 3-1935-1936); Hà Huy Tập (1936-1938); Nguyễn Văn Cừ (3-1938 đến 1-1940); Trường Chinh (5-1941 - 2-1951).

Các Hội nghị Trung ương từ Đại hội I đến Đại hội II theo thứ tự ngày tháng: 7-1936;13 và 14-3-1937; 3 đến 5-9-1937; 29 và 30-3-1938; 11-1939; 5-1941; 9-3-1945; 13-8-1945; 18 và 19-12-1946; 1-1948; 1-1949; 1-1950.





* Hosted for free by zIFBoards