View Full Version: Tác Giả Trong Chương Tŕnh Ngữ Văn 9

oOoNbk 4rumoOo > Ngữ văn > Tác Giả Trong Chương Tŕnh Ngữ Văn 9


Title: Tác Giả Trong Chương Tŕnh Ngữ Văn 9


Blue_topaz - August 16, 2007 02:19 AM (GMT)
Đây là topic về tiểu sử của các tác giả trong Ngữ Văn 9.C̣n ai có yêu cầu về tác giả nào cũng có thể post yêu cầu ở đây(nêu rơ giới hạn về thời gian nều có)

Blue_topaz - August 16, 2007 02:29 AM (GMT)
Nguyễn Du ( 1765–1820) là một nhà thơ kiệt xuất của Việt Nam. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) đă đưa ông lên hàng Danh nhân văn hóa thế giới.

Nguyễn Du tên tự là Tố Như ,tên hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ.

* Cuộc đời
Ông quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long. Ông thuộc ḍng dơi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con). Anh khác mẹ (con bà chính) của ông là Toản Quận Công Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều.

Năm 1771, ông cùng gia đ́nh Tể tướng Nguyễn Nghiễm chuyển về ở làng Tiên Điền.

Năm 1775, lúc 10 tuổi Nguyễn Du mồ côi cha.

Năm 1778, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ, ông phải ra Thăng Long ở với anh cả là Nguyễn Khản. Được vài năm, Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền ở với người chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành.

Năm 1783, Nguyễn Du thi hương tại trường thi Nghệ An và đậu Tam trường. V́ lẽ ǵ không rơ, ông không tiếp tục thi lên nữa, mà đi nhận một chức quan vơ ở Thái Nguyễn, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần.

Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân nhà Thanh. Nguyễn Du, v́ tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn.

Từ năm 1789 đến năm 1795, ông sống ở Thái B́nh- quê vợ.

Năm 1796: Nguyễn Du dự định vào Gia Định cộng tác với Chúa Nguyễn, âm mưu bị bại lộ, bị nhà Tây Sơn bắt giam ba tháng.

Có thể Nguyễn Du đă thai nghén Truyện Kiều vào thời gian này; năm đó Nguyễn Du đúng 30 tuổi ("Trải qua một cuộc bể dâu" - một bể dâu bằng khoảng 30 năm
Nhưng theo Giáo sư Nguyễn Lộc ("Từ điển Văn học" tập II - Nhà xuất bản Khoa học Xă hội, 1984) trang 455 viết: "Đoạn trường tân thanh(đoạn trường: đứt ruột; tân thanh: tiếng mới). là một truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-20). Có thuyết nói Nguyễn Du viết trước khi đi sứ, có thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng B́nh (1804-09). Thuyết sau này được nhiều người chấp nhận".
Chi tiết xem thêm bài Truyện Kiều
Từ 1797 đến năm 1804: Nguyễn Du ẩn dật tại Tiên Điền.

Khi Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, rồi mời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ măi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm 1805, ông bắt đầu vào Huế làm quan với nhà Nguyễn và được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu. Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.

Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngại. Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí.

Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ ǵn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua th́ ra dáng sợ sệt như không biết nói năng ǵ..."

Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi th́ ông đột ngột qua đời.

Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đă lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều ǵ."


*Tác phẩm tiêu biểu
Ngoài Truyện Kiều nổi tiếng ra, Nguyễn Du c̣n để lại
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh
Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu
Thác Lời Trai Phường Nón (bằng chữ Nôm)
-Ba tập thơ chữ Hán điển h́nh
Thanh Hiên Thi Tập
Nam Trung Tạp Ngâm
Bắc Hành Tạp Lục
Các bài thơ khác : - Cảm Hứng Trong Tù - Đầu Sông Chơi Dạo - Đứng Trên Cầu Hoàng Mai Buổi Chiều - Đêm Đậu Thuyền Cửa Sông Tam Giang - Đêm Rằm Tháng Giêng Ở Quỳnh Côi - Lưu Biệt Anh Nguyễn - Mộ Đỗ Thiếu Lăng Ở Lôi Dương - Miếu Thờ Mă Phục Ba Ở Giáp Thành - Ngày Thu Gởi Hứng - Nói Hàn Tín Luyện Quân - Người Hát Rong Phủ Vĩnh B́nh - Ngồi Một Ḿnh Trong Thủy Các - Ngựa Bỏ Bên Thành - Ngày Xuân Chợt Hứng - Long Thành Cẩm Giả Ca - Tranh Biệt Cùng Giả Nghị - Qua Sông Hoài Nhớ Thừa Tướng Văn - Xúc Cảm Đ́nh Ven Sông - Viếng Người Con Hát Thành La
* Nhận xét
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm trạng ông. Nó như một thứ nhật kư, giải bày mọi nỗi niềm, mọi ư nghĩ trong cảnh sống thường nhật của chính ông. Cả ba cuốn:
-Thanh Hiên thi tập (viết trong khoảng 1785-1802, khi Nguyễn Du lánh ẩn ở quê vợ, Thái B́nh, rồi trở về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều Gia Long);
-Nam trung tạp ngâm (1805-1812, khi Nguyễn Du làm quan ở Huế rồi cai bạ Quảng B́nh); và
-Bắc hành tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung Hoa)
đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc nội tâm.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài luận bàn nhân tâm thế sự và xót thương thân phận. Một h́nh ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc, Nguyễn Du có mái tóc bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ, của những nghiền ngẫm buồn thương và bế tắc

Tráng sỹ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Tráng sỹ ngẩng mái đầu tóc bạc bi thương than với trời xanh
Chí lớn một đời và miếng ăn hàng ngày cả hai đều mờ mịt

Khi quân Tây Sơn ra Bắc năm 1786, Nguyễn Du trung thành với nhà Lê không cộng tác, t́m đường lánh ẩn, chịu sống nghèo khổ. Những thiếu thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ:

Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng
Mười đứa con sắc mặt xanh như lá

Hoặc:

Trong bếp suốt ngày không có khói lửa
Trước đèn phải mượn chén rượu cho gương mặt được hồng hào
Do vậy, ông thấy:

Nhất sinh từ phú như vô ích
Măn giá cầm thư đồ tự ngu
Một đời chữ nghĩa thành vô ích
Sách đàn đầy giá chỉ làm ta ngu dốt

Lời nhận xét thật chua chát, bế tắc. Mái tóc bạc như một chứng tích tiều tụy cho cái nghịch lư ấy: Phơ phơ tóc bạc sống gửi ở nhà người, rồi: Già đến, tóc bạc đáng thương cho ngươi. Mái tóc cũng bạc đă thành bạn tri âm cho Nguyễn Du than thở: Tóc sương là bạn đi cùng.

Nói là già nhưng lúc viết Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du chỉ ở tuổi 20 đến 37.

Trù trướng lưu quang thôi bạch phát
Một sự chọn hướng trái chiều với bước đi của lịch sử làm Nguyễn Du ngùi ngẫm giằng xé cả một đời, ngay cả thời gian ra làm quan với Gia Long:

Ơn vua chưa trả đỉnh đinh
Mưa xuân nhuần thấm nhưng ḿnh lạnh xương
Tạ ơn của vua nhưng lại thấy buốt lạnh trong xương cốt v́ Nguyễn Du ôm một nỗi niềm éo le. Giáo lư Khổng Mạnh dạy: Tôi trung không thờ hai vua. Nhưng với Nguyễn Du, vua phải thờ th́ hèn kém, thậm chí rước voi về giày mồ (Lê Chiêu Thống), c̣n vua phải chống th́ lại anh hùng, bảo vệ độc lập dân tộc (Quang Trung). Biết mà không vượt qua được, ông mong được hậu thế cảm thông:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Ba trăm năm nữa nào biết được
Thiên hạ ai người khóc Tố Như

Có một nỗi niềm đến phút cuối Nguyễn Du vẫn phải nén lại và mang đi. Buồn thương, cô đơn đă thành thuộc tính của đời ông như màu xanh là thuộc tính của cỏ:

Nhân tự bi thê, thảo tự thanh
Người tự buồn thương, cỏ tự xanh

Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương, lưu lạc, nỗi nhớ quê nhà... trong các bài thơ. Ông thấy tài năng văn chương như con chim phượng nhốt trong lồng nát và công danh th́ cùng đường như con rắn đă chui trong hang.

B́nh sinh văn thái tàn lung phượng
Phù thế công danh tẩu hác xà
Ở các bài vịnh nhân vật và luận về các sự kiện lịch sử Trung Hoa trong Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đă xuất phát từ quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người để cân đo lại trọng lượng các vĩ nhân và các chiến công ầm ỹ một thời.

SR :Wikipedia

Blue_topaz - August 16, 2007 02:58 AM (GMT)
Gabriel García Márquez
Gabriel García Márquez Sinh ngày: 6 tháng 3, 1928
tại Aracataca, Magdalena, Colombia.
Nghề nghiệp: nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động chính trị
Tác phẩm chính: Trăm năm cô đơn, T́nh yêu thời thổ tả
Gabriel José García Márquez (6 tháng 3 năm 1928 - ) là một nhà văn người Colombia nổi tiếng, ông c̣n là nhà báo và một người hoạt động chính trị.

Nổi tiếng với các tiểu thuyết El amor en los tiempos del cólera (T́nh yêu thời thổ tả), El otoño del patriarca (Mùa thu của vị trưởng lăo), El general en su laberinto (Tướng quân giữa mê hồn trận) và hơn cả là Cien años de soledad (Trăm năm cô đơn), García Márquez là một đại diện tiêu biểu của nền văn học Mỹ Latinh. Tên tuổi của ông gắn liền với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. García Márquez được trao Giải Nobel Văn học năm 1982.

Tiểu sử
Gabriel José García Márquez sinh tại Aracataca, một thị trấn bên bờ biển Caribê, thuộc miền Bắc Colombia, trong một gia đ́nh trung lưu 11 người con mà ông là con cả. Cha của Marquez là Gabriel Eligio Garcia, một nhân viên điện tín đào hoa có nhiều con ngoài giá thú cả trước và sau khi kết hôn. Mẹ của Marquez là bà Luisa Marquez. Gabriel García Márquez lớn lên, những năm tháng đầu tiên trong một đại gia đ́nh, ông ngoại là Nicolas Marquez, một cựu đại tá theo phái tự do từng chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Một ngàn ngày, bà ngoại là Tranquilina, cùng nhiều bác, d́...

Sau thời gian tuổi thơ, ông cùng cha mẹ chuyển đến Sucre, nơi cha của ông có một hiệu thuốc và hành nghề chữa bệnh bằng liệu pháp vi lượng đồng căn. Năm 1936, Marquez được bố mẹ gửi đến Barranquilla và Zipaquirá học phổ thông. Tới năm 1947, García Márquez tới Bogota, thủ đô của Colombia theo học tại Đại học Quốc gia Colombia và bắt đầu tham gia viết báo cho tờ El Espectador và bắt đầu những tác phẩm văn học đầu tiên gồm 10 truyện ngắn nổi tiếng. Năm 1948, ông tham cùng các sinh viên thủ đô tham gia biểu t́nh phản đối vụ ám sát Jorge Eliecer Gaitan, một chính khách tiến bộ, ứng cử viên tổng thống Colombia.

Sau khi học được năm học kỳ, García Márquez quyết định bỏ học rồi chuyển về Barranquilla thực sự bước vào nghề báo và viết tiểu quyết đầu tay La hojarasca (Băo lá). Ông cũng tham gia vào "Nhóm Barranquilla", một nhóm gồm các nhà báo xuất sắc và, thông qua họ, García Márquez bắt đầu tiếp xúc với các tác giả về sau có ảnh hưởng mạnh mẽ tới ông: Frank Kafka, James Joyce, đặc biệt là William Faulkner, Virgina Woolf và Ernest Hemingway.

Năm 1954, Mutis, một người bạn, thuyết phục García Márquez trở lại Bogota tiếp tục làm báo và ông đă có một số phóng sự nổi tiếng. Năm 1955, García Márquez đến Thụy Sỹ làm đặc phái viên của tờ El Espectador. Sau đó ông tới Ư tham gia học tại Trung tâm thực nghiệm điện ảnh rồi sang Paris, nơi García Márquez nhận được tin tờ El Espectador bị đ́nh bản và nhận được vé máy bay về nước. Nhưng García Márquez quyết định ở lại Paris và sống trong điều kiện vật chất rất khó khăn. Trong thời gian này ông viết cuốn tiểu thuyết La mala hora (Giờ xấu), đồng thời tách từ cuốn này viết nên El coronelKhôngtiene quien le escriba (Ngài đại tá chờ thư). Cùng với người bạn thân Plinio Apuleyo Mendoza, García Márquez tới một loạt các nước xă hội chủ nghĩa ở Đông Âu và viết nhiều thiên phóng sự về các quốc gia này.

Năm 1958, sau hai tháng ở London, García Márquez quyết định trở về châu Mỹ v́ cảm thấy "những điều huyền thoại đang bị nguội lạnh"[cần dẫn chứng] trong tâm trí. Ban đầu ông ở tại Caracas, thủ đô Venezuela, và làm cho báo Momentos cùng Plinio Apuleyo Mendoza. Chứng kiến vụ đảo chính chống nhà cầm quyền độc tài Perez Jimenez, García Márquez bắt đầu có ư định viết về các chế độ chuyên chế ở Mỹ Latinh. Trong một lần về thăm Barranquilla, García Márquez cưới Mercedes Barcha, người ông đă yêu từ trước khi sang châu Âu, sau đó họ có hai con trai: Rodrigo sinh năm 1959 và Gonzalo sinh năm 1960. Cũng ở Caracas, ông viết tập truyện ngắn Los funerales de la Mamá Grande (Đám tang bà mẹ vĩ đại).

Năm 1960, ngay sau khi Cách mạng Cuba thành công, García Márquez tới quốc gia này làm phóng viên cho hăng thông tấn Prensa Latina và làm bạn với Fidel Castro. Năm 1961, ông tới New York với tư cách phóng viên thường trú của hăng Prensa Latina của Cuba. Sau đó ông quyết định tới cư trú ở Mexico và bắt đầu với điện ảnh bằng việc viết kịch bản phim. Trong khoảng thời gian từ 1961 tới 1965, với văn học, García Márquez không sáng tác một ḍng nào, hậu quả của "tâm lư thất bại" với các tác phẩm trước đây.

Từ đầu năm 1965, García Márquez bắt đầu viết tác phẩm quan trọng nhất của ḿnh: Cien años de soledad (Trăm năm cô đơn). Sau 18 tháng đóng cửa miệt mài viết, khi tác phẩm hoàn thành cũng là lúc t́nh trạng tài chính gia đ́nh đặc biệt khó khăn. Để có tiền gửi bản thảo cho nhà xuất bản Nam Mỹ ở Argentina, García Márquez đă phải bán nốt những vật dụng giá trị trong nhà. Năm 1967, Trăm năm cô đơn được xuất bản và ngay lập tức giành được thành công lớn, được cả giới phê b́nh và độc giả mến mộ. Sau đó García Márquez tách từ Trăm năm cô đơn một sự kiện và viết thành tiểu thuyết ngắn La increíble y triste historia de la cándida Eréndira y de su abuela desalmada (Truyện buồn không thể tin được của Erendira và người bà bất lương).

Từ năm 1974, García Márquez sống ở Mexico, Cuba, thành phố Cartagena của Colombia và Paris, tham gia các hoạt động chính trị với tư cách một nhà văn nổi tiếng. Năm 1975 ông viết El otoño del patriarca (Mùa thu của vị trưởng lăo) và năm 1981 cho ra đời Crónica de una muerte anunciada (Kư sự về một cái chết được báo trước). Cũng năm 1981, ông bị chính phủ bảo thủ Colombia vu cáo là đă bí mật cung cấp tài chính cho phong chào du kích cánh tả M-19, García Márquez phải sang sống lưu vong tại Mexico trong t́nh trạng thường xuyên bị đe dọa ám sát.

Năm 1982, Viện hàn lâm Thụy Điển trao Giải Nobel Văn học cho García Márquez. Trước đó ông cũng được chính phủ Pháp tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh. Năm 1985, García Márquez xuất bản cuốn tiểu thuyết lớn tiếp theo của ông, El amor en los tiempos del cólera (T́nh yêu thời thổ tả), lấy cảm hứng chính từ mối t́nh của cha mẹ ông. Năm 1986, García Márquez vận động thành lập Quỹ Điện ảnh mới của Mỹ Latinh và trực tiếp thành lập Trường điện ảnh San Antonio de los Banos ở Cuba, nơi hàng năm ông tới giảng dạy một khóa ngắn về viết kịch bản.

Năm 1989, García Márquez viết El general en su laberinto (Tướng quân giữa mê hồn trận), tiểu thuyết lịch sử về Simon Bolivar, một người đấu tranh giải phóng các nước Mỹ Latinh. Năm 1992, ông viết Doce cuentos peregrinos (Mười hai truyện phiêu dạt), một tập truyện ngắn dựa trên các sự kiện báo chí. Năm 1994, ông cho xuất bản tiểu thuyết Del amor y otros demonios (T́nh yêu và những con quỷ khác), lấy bối cảnh là thành phố Cartagena và t́nh yêu giữa một thầy tu 30 tuổi và con chiên là một đứa trẻ mới 12 tuổi.

Cuối năm 1995, một nhóm bắt cóc đă thực hiện vụ bắt cóc Juan Carlos Gaviria, em trai cựu tổng thống với điều kiện là García Márquez phải lên làm tổng thống. Năm 1996, García Márquez hoàn thành cuốn Noticia de un secuestro (Tin tức một vụ bắt cóc), một thiên phóng sự được tiểu thuyết hóa về vụ những kẻ buôn lậu ma túy bắt cóc mười người, trong đó có tám nhà báo.

Năm 2002, mặc dù sức khỏe yếu, García Márquez đă hoàn thành cuốn hồi kư đầu tiên Vivir para contarla (Sống để kể lại) về 30 năm đầu của đời ḿnh, trước khi tới châu Âu lần thứ nhất. Tháng 10 năm 2004, García Márquez xuất bản cuốn Memoria de mis putas tristes (Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi).


Tác phẩm
Năm Tác phẩm Bản dịch tiếng Việt
1954 La Hojarasca Băo lá, Băo lá úa
1961 El coronelKhôngtiene quien le escriba Ngài đại tá chờ thư, Không có thư cho ngài đại tá
1962 Los funerales de la Mamá Grande Đám tang bà mẹ vĩ đại
1962 Ojos de perro azul Đôi mắt chó xanh
1962 La mala hora Giờ xấu
1967 Cien años de soledad Trăm năm cô đơn
1970 Relato de un náufrago Nhật kư người ch́m tàu
1975 El otoño del patriarca Mùa thu của vị trưởng lăo
1978 La increíble y triste historia de la cándida Eréndira y de su abuela desalmada Truyện buồn không thể tin được của Erendira và người bà bất lương
1981 Crónica de una muerte anunciada Kư sự về một cái chết được báo trước
1985 El amor en los tiempos del cólera T́nh yêu thời thổ tả
1989 El general en su laberinto Tướng quân giữa mê hồn trận
1992 Doce cuentos peregrinos Mười hai truyện phiêu dạt
1994 Del amor y otros demonios T́nh yêu và những con quỷ khác
1996 Noticia de un secuestro Tin tức về một vụ bắt cóc
2002 Vivir para contarla Sống để kể lại
2004 Memoria de mis putas tristes Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi
Sr:wikipedia

Blue_topaz - August 16, 2007 03:05 AM (GMT)
Nguyễn Dữ, tác giả truyện Truyền kỳ mạn lục nổi tiếng sống ở thế kỷ XVI, xuất thân trong gia đ́nh cha đậu tiến sĩ cuối đời Hồng Đức, quê làng Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc, nay là Đỗ Lâm, Tứ Lộc, Hải Dương. Nguyễn Dữ là học tṛ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đỗ hương tiến (tức cử nhân), có làm tri huyện một thới gian rồi thôi quan về nhà sống ẩn dật, phụng dưỡng mẹ già và viết sách. Tác phẩm Nguyễn Dữ để lại có Truyền kỳ mạn lục, một tác phẩm được đánh giá là "thiên cổ kỳ bút".
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ hiện c̣n, là một bản trùng san, in năm 1763, có phần dịch ra Nôm và chú thích cẩn thận, với tên gọi Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, gồm 20 truyện.

Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn học nước nhà đương thời cũng như các thế kỷ tiếp sau. Chính Nguyễn Bỉnh Khiêm đă đọc và sửa chữa cho tác phẩm này. Nhiều người có tiếng tăm đă b́nh luận, khen ngợi cái hay, cái lạ của bút lực Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục và nó từng mấy lần được khắc in. Sau Nguyễn Dữ, có Nguyễn Diễn Trai viết Truyền văn tân lục kể về những chuyện lạ của các nhân vật hiển đạt từ thời Lư đến thời Lê, Đoàn Thị Điểm soạn Tục truyền kỳ, tức Truyền kư tân phả, chép các chuyện kinh dị, ly kỳ.

Trong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ viết về các nhân vật, các sự việc kỳ lạ xảy ra thời Lư, Trần, Hồ và thời Lê sơ. Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần, vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài giỏi ấy vẫn hiện rơ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền thế độc ác, đồi bại. Phải chăng đấy chính là h́nh ảnh của xă hội Nguyễn Dữ đang sống, một xă hội phong kiến lúc suy yếu, mục nát. Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, tác giả Truyền kỳ mạn lục vẫn nh́n thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những t́nh người t́nh yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đă mô tả nó thật đẹp đẽ, mỹ lệ.

Trong 20 truyện Nguyễn Dữ viết, truyện nào cũng thể hiện một quan điểm chính trị, một thái độ nhân sinh, một ư tưởng đạo đức của ông. Đó là những mong muốn của Nguyễn Dữ về một xă hội mọi người được sống yên b́nh trong nền đức trị, trong sự công bằng, trong t́nh cảm yêu thương nhân ái giữa con người với con người...

Giá trị lớn của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục chính là ở những nội dunh nhân văn đó.
Sr:wikipedia
Edit by me

Blue_topaz - August 16, 2007 03:31 AM (GMT)
PHẠM Đ̀NH HỔ:
(tự: Tùng Niên; hiệu: Đông Dă Tiều; 1768 - 1839), nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Quê: làng Đan Loan, huyện Đường An (nay là huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Đỗ Tú tài. Sinh trưởng trong một gia đ́nh khoa bảng, đọc nhiều sách, đi dạy học nhiều nơi, hiểu biết rộng. Có nhiều công tŕnh nghiên cứu lịch sử, địa lí, ngôn ngữ, triết học: “An Nam chí”, “Ô châu lục”, “Kiền khôn nhất lăm”... Được truyền tụng nhất là tập “Vũ trung tuỳ bút” và “Tang thương ngẫu lục” (viết chung với Nguyễn Án) (x. “Vũ trung tuỳ bút”). Phạm Đ́nh Hổ có 2 tập thơ “Đông Dă học ngôn thi tập”, “Tùng cúc liên mai tứ hữu”, nói lên tâm sự của người bất đắc chí sống ở thời loạn. Gần 60 tuổi, Phạm Đ́nh Hổ lại được Minh Mạng triệu vào Kinh làm thừa chỉ Viện Hàn lâm, rồi làm tế tửu Quốc Tử Giám.

Blue_topaz - August 16, 2007 04:18 AM (GMT)
Nguyễn Đ́nh Chiểu


Nguyễn Đ́nh ChiểuNguyễn Đ́nh Chiểu là một nhà văn hóa cận đại của Việt Nam sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân B́nh, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm 1888 tại Ba Tri, Bến Tre.

Tiểu sử
Cuộc đời Nguyễn Đ́nh Chiểu sớm trải qua những chuỗi ngày gia biến và quốc biến hăi hùng đă tác động đến nhận thức của ông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đ́nh Chiểu đă theo cha chạy giặc.

Năm 1833, Nguyễn Đ́nh Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đ́nh Chiểu) gửi Nguyễn Đ́nh Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học.

Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng sau đó, mẹ ông mất, ông trở về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Về quê, chịu tang mẹ xong, ông lại bị một gia đ́nh giàu có bội ước. Từ ấy ông vừa dạy học vừa làm thơ sống giữa t́nh thương của mọi người. Về sau có người học tṛ cảm nghĩa thầy đă gả em gái. Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.

Khi Pháp xâm chiếm Gia Định, ông về ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tiếp tục dạy học và làm thuốc. Vốn nhiệt t́nh yêu nước, ông liên hệ mật thiết với các nhóm nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là, lănh binh Trương Định. Ông tích cực dùng văn chương kích động ḷng yêu nước của sĩ phu và nhân dân. Biết ông là người có uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu cao khí tiết, không chịu khuất phục.

Người Việt Nam đánh giá ông không những là một nhà thơ lớn mà c̣n là một nhà yêu nước, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ 19.


Quan điểm văn chương
Nguyễn Đ́nh Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng ông có quan điểm văn chương riêng. Quan điểm "văn dĩ tải đạo" của ông khác với quan niệm của nhà Nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ. Nhà Nho quan niệm Đạo là đạo của trời, c̣n Đồ Chiểu trên nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng trong thực tế đạo làm người đáng quư hơn nhiều. Đó là quan niệm bao trùm văn chương Đồ Chiểu.

Quan điểm văn chương Đồ Chiểu tuy không được tuyên ngôn nhưng đây là quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công và tinh thần nhân ái.


Tác phẩm chính
Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, có tính chất tự truyện.
Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Ngư Tiều y thuật vấn đáp (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861)
Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định (1864)
Mười bài thơ điếu Phan Ṭng (1868)
Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874)
Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Hịch đánh chuột (chưa xác định thời điểm sáng tác).

Thông tin thêm
Con gái thứ năm của ông là Nguyễn Thị Ngọc Khuê tức nữ sĩ Sương Nguyệt Anh và con thứ bảy là Nguyễn Đ́nh Chiêm đều nổi tiếng trong giới văn chương.


Blue_topaz - August 16, 2007 04:26 AM (GMT)
Chính Hữu, tên thật là Trần Đ́nh Đắc, là một nhà thơ Việt Nam, nguyên Phó tổng thư kư Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật đợt hai (năm 2000).
Tiểu sử hoạt động
Ông sinh ngày 15 tháng 12 năm 1926 tại Vinh (Nghệ An). Tuy nhiên, quê của ông lại là huyện Can Lộc nay là huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông học tú tài (triết học) ở Hà Nội trước cách mạng tháng tám. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Ông c̣n làm chính trị viên đại hội (chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954). Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Tập thơ Đầu súng trăng treo (1966) là tác phẩm chính của ông. Bài thơ "Đồng chí" được in vào tháng 2-1948. Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và h́nh ảnh chọn lọc, hàm súc. Ông đă sáng tác bài thơ "Đồng chí" mà sau này đă được phổ nhạc cho bài hát "T́nh đồng chí". Bài hát đă khơi dậy những xúc động mănh mẽ trong ḷng nhiều thế hệ .
Tác phẩm
• Đầu súng trăng treo (tập thơ, NXB Văn học, 1966)
• Thơ Chính Hữu (tập thơ, NXB Hội nhà văn, 1997)
• Tuyển tập Chính Hữu (NXB Văn học, 1998)
Chính Hữu sinh 1926, tại Vinh, là nhà thơ quân đội thực thụ cả ở phía tác giả lẫn tác phẩm. Từ lúc viết bài thơ đầu cho đến nay Chính Hữu vẫn phục vụ trong quân đội. Đề tài thơ hầu hết là đề tài đánh giặc, nhân vật trung tâm là anh bộ đội. T́nh cảm quán xuyến trong toàn bộ thơ Chính Hữu là t́nh cảm người lính, trong đó ḷng yêu Tổ quốc và t́nh đồng chí là hai chủ đề hay được đề cập. Thơ Chính Hữu thể hiện một cá tính trầm lặng nhưng cả nghĩ và dào dạt yêu thương, trong ḷng luôn luôn có sự khắc khoải về trách nhiệm trước những nỗi gian lao của đồng bào, đồng chí. Anh hay nghiêng về những hy sinh xót xa, với sự chân thành cảm phục biết ơn và rất nhiều tự vấn về trách nhiệm ḿnh. Trong lễ duyệt binh, mắt nh́n những đoàn quân hùng mạnh đang tiến theo xe đại bác, tai nghe tiếng quân nhạc hùng tráng, nhưng tâm trí lại hướng về Đồng chí thương binh trên đôi nạng gỗ và sự xúc động hướng vào nhận thức:

mới hiểu được
v́ sao những lá cờ bay
theo nhịp bước
v́ sao những chân đi làm rơi nước mắt

Cảm hứng lớn trong thơ Chính Hữu cũng như trong cả nền thơ chúng ta là cảm hứng ca ngợi. Nhưng anh không ca ngợi dễ dăi, nhẹ ḷng. Anh ca ngợi với tư thế người trong cuộc, người gánh trách nhiệm trên vai. Với anh, nhà thơ không thể chỉ đứng mà xuưt xoa,cảm thán trước những gian khổ hy sinh của dân tộc mà phải góp phần gánh vác những gian khổ đó. Ca ngợi anh giải phóng quân, anh ca ngợi trong sự chia sẻ sâu sắc. Tứ thơ Một nửa rất sáng tạo:

Tôi ôm anh
Như ôm nửa thân tôi đẫm máu
... cuộc đời anh cho tôi chia một nửa
Nửa giọt mồ hôi vạt áo c̣n đầm
Nửa dăy Trường Sơn thác ghềnh vất vả
Nửa nắm cơm hạt muối nhọc nhằn

Trong thơ Chính Hữu chúng ta hay gặp tiếng reo nhận thức:

Ta mới hiểu, ta mới hiểu.
Ta mới hiểu thế nào là đồng đội
Mới hiểu được v́ sao những lá cờ bay
Mới biết chiều cao ngọn núi, chiều rộng con sông...

Đó cũng là một bằng chứng để nói ư thức tự nhận trách nhiệm là một t́nh cảm thường trực ở Chính Hữu. Có thể v́ thế người ta thấy trong giọng thơ Chính Hữu một sự khắc khổ,lặng lẽ. Dù sao, trên tư cách một nhà thơ quân đội, Chính Hữu đă góp phần tích cực trong việc rèn luyện tư tưởng t́nh cảm cho bộ đội ta từ những việc cụ thể mà mỗi người lính thường gặp. Điều quan tâm lớn nhất ở Chính Hữu là trách nhiệm người lính trước vận mệnh Tổ quốc. Trách nhiệm ấy trong thơ anh được h́nh thành từ những yêu thương dằng dịt đối với người mẹ thắp hương cầu trời phù hộ bước con đi, đối với người vợ gánh gạo đưa chồng hai vai khó nhọc, đối với đồng chí đồng đội, đồng bào. Chính Hữu t́m sức mạnh của đoàn quân ở chỗ nhận thức giá từng thước đất: Bên trái Ḷ Văn Sự, bên phải Nguyễn Đ́nh Ba và sức mạnh của khẩu súng không phải chỉ nằm trong viên đạn khi:

Súng ta kê
bên nôi nhỏ
các em nằm

Nhận thức trong thơ Chính Hữu trong khá nhiều trường hợp đă đạt được bằng con đường t́nh cảm. Nhờ thế thơ anh rắn khỏe về tư tưởng, mà vẫn uyển chuyển, thấm thía.

Thơ Chính Hữu không phải là thơ phản ánh từng sự việc, miêu tả từng hoàn cảnh. Anh không quen lối viết ngay tại trận như nhiều cây bút khác. Anh viết sau khi mọi việc đă lắng lại, những ǵ kư ức c̣n giữ đều đă được gạn lọc. Thơ anh thiên về tổng hợp, tổng kết, có sức khái quát rộng. Thời gian để hoàn thiện một bài thơ nhiều khi khá lâu. Bài Đồng chí là những rung động thu nhận được trong một lần đi chiến dịch, nhưng phải đợi khi chiến dịch đă kết thúc, trong một đợt đi điều dưỡng Chính Hữu mới ôn lại mà viết. Bài Thư nhà là kết tinh nhiều lần xúc động của tác giả. Mỗi khi gặp những đoàn dân công hậu phương gánh gạo, tải đạn ra mặt trận, Chính Hữu ghi trong kư ức những trạng thái tâm t́nh của ḿnh, nhưng không ghi một câu thơ cụ thể nào trên giấy. Măi cuối chiến dịch Điện Biên Phủ anh mới phác ra Thư nhà, và bảy năm sau (1961), bài thơ mới đủ chín để xuất hiện.

Có lẽ v́ cách làm việc như vậy nên Chính Hữu viết chậm, dù rằng trong ḷng anh không lúc nào nguôi những nghĩ ngợi về thơ. Chính Hữu không viết ép, thấy câu chữ nhạt, là thôi ngay. Anh chỉ viết khi cảm xúc đầy đặn và chữa rất công phu. Nhờ vậy thơ Chính Hữu ít trồi sụt về chất lượng.

Thơ Chính Hữu có một kết cấu chặt chẽ, anh hiếm có câu thừa, ngay ở từng chữ cũng có sự cân nhắc. Anh viết như người ta chạm khắc, tính toán cẩn thận, rồi mới đặt mũi dao.

Nhịp điệu trong câu thơ Chính Hữu ít khi cố định, nó đổi thay theo nội dung, góp phần tạo nên nội dung. Anh ít viết theo các thể thơ ổn định, h́nh như không có bài lục bát nào. Anh sợ quán tính của vần điệu lôi tuột cả t́nh ư đi.

Có thể nói mỗi bài thơ Chính Hữu đều có một t́m ṭi mới. Anh giữ bản sắc dân tộc một cách sáng tạo. Anh học ca dao trong h́nh ảnh ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt, trong công việc của người vợ gánh gạo đưa chồng hai vai khó nhọc. Người xưa nói chia ly nơi đầu cuối một ḍng sông, anh nói đoàn tụ ở hai đầu chiến trường. Câu thơ núi biên giới Núi, lại núi, lại núi phải chăng cũng phát triển từ câu thơ: Một đèo, một đèo, lại một đèo... Khi học tập một cách nói tự bên ngoài, Chính Hữu cũng không sa vào lai căng, lộ liễu, do anh biết bám chắc vào chất sống Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.



Blue_topaz - August 16, 2007 04:32 AM (GMT)
Phạm Tiến Duật (sinh năm 1941) là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm tiêu biểu viết trong thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hiện nay ông là Phó trưởng ban đối ngoại Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam.
Tiểu sử
Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hán và chữ Pháp, c̣n mẹ làm ruộng, không biết chữ. Ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ. Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng.
Chiến tranh kết thúc, ông trở lại với công tác của ḿnh. Hiện nay, ông sống ở Hà Nội.
Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và hội viên Hội nhà Văn Việt Nam (gia nhập năm 1970). Ông đă được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969–1970.
Đóng góp
Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ. Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung nhưng cũng tinh nghịch và sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đă được phổ nhạc thành bài hát để động viên tinh thần chống Mỹ.
Những tập thơ chính của nhà thơ Phạm Tiến Duật:
• Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), nổi tiếng nhất với tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính"
• Thơ một chặng đường (thơ, 1971)
• Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
• Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)
• Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994)
• Nhóm lửa (thơ, 1996)
• Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941. Quê gốc: thị xă Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học sư phạm Văn, chưa đi dạy ngày nào, ông nhập ngũ (1965). Mười bốn năm trong quân đội thêm tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói: Trường Sơn đă tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Chiến tranh đă qua một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn c̣n vang ngân lắm h́nh bóng của Trường Sơn.

Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được, dù hồi đó đă thấy vài người mô phỏng. Khó v́ giọng đùa đùa, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của t́nh cảm con người. Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa. Điều đáng nói là giọng thơ ấy đă tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó. Kháng chiến chống xâm lược Mỹ là cuộc chiến tranh ác liệt, nhất là ở Trường Sơn. Hy sinh lớn, gian khổ nhiều. Thơ cần phản ánh chân thật thực tiễn ấy, nhưng lại không được gây bi lụy, xót thương. Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của ḷng người. Nhưng cũng không được lên gân, cao giọng hay cắt bớt nét dữ dằn của thực tế chiến tranh. Đây là một thử thách với tất cả các nhà thơ hồi ấy. Nhiều người không vượt được. Phạm Tiến Duật vượt được, trước hết nhờ vào cái giọng đó:
Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà.
Con gái thế th́ đoảng quá: đêm ngủ không rửa chân, nằm mơ th́ nói ông ổng. Đây lại là lời kể của cô bạn cùng đơn vị thanh niên xung phong nói với bạn trai của cô gái. Hại thế. Nhưng không, anh bạn nghe lại ứa nước mắt: Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa. Thương em, thương em, thương em biết mấy. Trong một câu có tới ba động từ thương. Rửa chân trước khi đi ngủ là quyền lợi của mọi người trên mặt đất. Nhưng ở đây, để đ̣i được quyền lợi nhỏ bé đó có thể phải đổi cả mạng người. Phá bom là việc làm đối diện với cái chết, không ai nói tài được. Con người có phần tự vệ bản năng nên phải hồi hộp lo âu. Nhưng v́ lư tưởng, ư chí đă vượt lên bản năng, họ làm mà không sợ hăi. Đêm về, ư thức của vỏ năo đă bị giấc ngủ ức chế, chỉ c̣n tiềm thức dưới vỏ năo hoạt động, nỗi sợ hăi bản năng trỗi dậy thành cơn mê hoảng. Đêm đêm mê hoảng nhưng sáng sáng lại ra mặt đường tiếp tục phá bom. Phẩm chất anh hùng cao cả đă thành nếp sống hàng ngày. Chất thơ chân thực, do vậy mà sâu xa, nó kết tinh từ sự từng trải của tác giả, chứ không phải từ thứ chế tạo trên trang giấy để biểu dương tuyên truyền. Giọng thơ Phạm Tiến Duật rất gần với câu nói thường ngày. Câu nói khác câu thơ là không du dương trau chuốt, nó thô mộc như chỉ có nhiệm vụ thông tin. Phạm Tiến Duật dùng chức năng thông tin ấy mà tạo thơ. Ông đặt thông tin nọ cạnh thông tin kia, như ngẫu nhiên, như có sao nói vậy, không b́nh luận móc nối ǵ, mà thành ra t́nh cảm, ra nghĩa lư sự đời. Bài thơ Công việc hôm nay , viết khoảng năm 1966- 1967, giống như văn bản tinThông tấn xă:
Cục Tác chiến báo sang tin cuối cùng
Về số máy bay rơi và tàu chiến cháy
Nha Khí tượng, tin cơn băo tan
Bộ Nông nghiệp, t́nh h́nh vụ cấy...
Trong những tờ tŕnh Thủ tướng kư đọc trong đêm C̣n có việc hoàn thành bộ thông sử đầu tiên Chính cái chất bản tin ấy đă tạo nên thơ: giữa bao nhiêu việc gấp gáp của đời sống chiến tranh, chúng ta vẫn dành sức lo cho lâu dài (bộ sử). Điều đó không chỉ là sự b́nh tĩnh mà c̣n là niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Phạm Tiến Duật muốn để sự kiện tự nói. Ông tinh tế trong quan sát, lại giàu có khi liên tưởng nên mới bắt chi tiết tự nói được như vậy. Với Phạm Tiến Duật, chi tiết nào của đời cũng có thể thành thơ, từ độ cao vật lư bảy trăm mét, một ngh́n mét, tám ngh́n mét đến dáng vẻ các loài hoa, loài cây, rồi xe không kính, rồi xoong nồi xủng xoảng, rồi nằm ngửa nằm nghiêng... Đây là một bước tiến dài trong sự "tiêu hóa" của thơ. Đâu cứ phải mây gió trăng hoa mà tất tật, thượng vàng hạ cám của đời đi qua tâm hồn Phạm Tiến Duật đều thành thơ. Ông đă kế thừa truyền thống "tạp thực" của thơ đội viên kháng chiến chống Pháp và xa nữa là Tú Xương đầu thế kỷ.

Vật liệu xây dựng nên bài thơ là việc thật của đời sống chiến tranh, c̣n nguyên lấm láp cát bụi chiến hào, không sơ chế tái chế ǵ, giọng thơ th́ tếu, vui, nhưng cảm xúc lại là trữ t́nh thấm thía, t́nh cảm sâu và rộng:
Cũng vương tóc rối chân gà
Cũng tiếng chó sủa chiều tà sau cây
Cũng quần áo ướt phơi dây
Cũng gàu múc nước. Ô hay, cũng làng
Thắm một h́nh ảnh làng đến vậy là nỗi ḷng người lính ở Trường Sơn những năm chiến tranh, khi mà không khí thanh b́nh làng quê xứ sở đă thành niềm xa lắc. Phạm Tiến Duật không trực tiếp nói nỗi ḷng ấy nhưng người đọc lại thấy được rất rő. Đằng sau giọng thơ, cái lői cảm xúc này mới là chính yếu làm nên chất thơ chiến tranh Phạm Tiến Duật. Nhân vật thơ thường ḥa vào tác giả. Ở Phạm Tiến Duật không, hoặc ít, phân biệt chủ thể, khách thể. Có lẽ khách chủ cũng đều là bộ đội nên họ dễ dàng thành một.

Phạm Tiến Duật thật sự là người đă mở rộng phạm vi cái nên thơ, giúp thơ trực tiếp với đời sống và giúp đời sống trực tiếp bước vào thơ.



Blue_topaz - August 16, 2007 04:42 AM (GMT)
Huy Cận là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất Việt Nam của phong trào Thơ Mới. Ông là bạn tâm giao của Xuân Diệu, một nhà thơ nổi tiếng khác của Việt Nam. Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xă Ân Phú, huyện Dương Sơn, Hà Tĩnh, mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội. Trước khi mất ông sống tại Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957.

Trước cách mạng tháng Tám, Huy Cận đi học (Tú tài, Cao đẳng Nông Lâm...) và hoạt động Văn học. Từ đầu năm 1942, vừa học Nông Lâm vừa tham gia hoạt động bí mật và làm thơ, viết văn. Cuối tháng 7-1945, tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc (sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa) và vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Là Bộ trưởng Canh nông và Thanh tra đặc biệt của Chính phủ lâm Thời. Từ 5-11 năm 1946 là Thứ trưởng Bộ Nội Vụ. Trong kháng chiến chống Pháp là Thứ trưởng Bộ Canh nông (12-1946 đến 7-1947) rồi Thứ trưởng Bộ Kinh tế (1947-1949). Từ 1949 đến 1955: Thứ trưởng, Tổng thư kư Hội đồng Chính phủ. Từ 1955 đến 1984: Thứ trưởng Bộ Văn hóa; Từ tháng 9-1984: Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Hiện là Phó chủ tịch ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Nhà thơ c̣n là Đại biểu Quốc hội khóa 1, 2 và 7.

Được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I-1996).

Tác phẩm:

THƠ: Lửa thiêng (1940); Vũ trụ ca (1942); Trời mỗi ngày lại sáng (1958); Đất nở hoa (1960); Bài thơ của đời (1963); Hai bàn tay em (1967); Phù Đổng Thiên Vương (1968); Những năm 60 (1968); Cô gái Mèo (1972); Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973); Chiến trường gần chiến trường xa (1973); Những người mẹ, những người vợ (1974); Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh (1976); Ngôi nhà giữa nắng (1978); Hạt lại gieo (1984); Tuyển tập Huy Cận tập I (1986); Chim làm ra gió (1991); Tào Phùng (1993); Thơ t́nh Huy Cận (1994); Marées de la Mer orientale Paris (1994); Tuyển tập Huy Cận II (1995); Thiên việt lương việt lăng (Bắc Kinh, 1959); Messages stellaires et terrestres (Canada, 1996); Thơ Huy Cận (1996).

VĂN: Tâm sự gái già (1940); Kinh cầu tự (1942); Suy nghĩ về nghệ thuật (1980 - 1982); Culture et politique république socialiste du Việt Nam. Paris (1985); Một cuộc cách mạng trong thi ca (chủ biên cùng Hà Minh Đức, 1993); Suy nghĩ về bản sắc dân tộc (1994); Các vùng văn hóa Việt Nam (chủ biên cùng Đinh Gia Khán, 1995); Culture Vietnamienne (traditionnelle et contemporaine, 1997).
Tiểu sử
Ông sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919, trong một gia đ́nh nhà nho nghèo gốc nông dân dưới chân núi Mồng Gà ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn (nay là xă Ân Phú, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận lúc nhỏ học ở quê, sau vào Huế học trung học, rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông. Trong thời gian học Cao đẳng, ông ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu. Từ năm 1942, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh, Huy Cận đă tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8 năm 1945) và được bầu vào Ủy ban giải phóng (tức Chính phủ Cách mạng lâm thời sau đó). Huy Cận cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám, ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ liên hiệp lâm thời.
Sau này ông làm thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa và Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam, phụ trách các công tác văn hóa và văn nghệ. Từ 1984, ông là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.
Huy Cận đă được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I - năm 1996).
Tháng 6 năm 2001, Huy Cận được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới.

Về đời tư, Huy Cận có hai người vợ. Người vợ đầu của ông là bà Ngô Xuân Như, em gái của nhà thơ Xuân Diệu. Có nhiều người tin rằng Huy Cận cùng với Xuân Diệu là hai nhà thơ đồng tính luyến ái. Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm, và cho những bài thơ T́nh trai, Em đi của Xuân Diệu và Ngủ chung của Huy Cận là viết về đề tài này.
Huy Cận mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội.
Con trai ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ
[sửa] Sáng tác
Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ đầu Lửa Thiêng năm 1940 (gồm những bài đă đăng báo, khoảng 1936-1940) và trở thành một tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Bao trùm Lửa Thiêng là một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn. Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu h́nh nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Hồn thơ "ảo năo", bơ vơ đó vẫn cố t́m được sự hài ḥa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời. Trong Kinh cầu tự (1942, văn xuôi triết lí) và Vũ trụ ca (thơ đăng báo 1940-1942), Huy Cận đă t́m đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc.
Sau Cách Mạng Tháng Tám - nhất là từ 1958 - hồn thơ Huy Cận được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và lao động xây dựng của nhân dân, trở nên dồi dào, tràn đầy lạc quan. Các tập thơ của Huy Cận sau Cách mạng: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (thơ thiếu nhi, 1967), Những năm sáu mươi (1968), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Họp mặt thiếu niên anh hùng (1973), Những người mẹ, những người vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984) …


Blue_topaz - August 16, 2007 04:48 AM (GMT)
Bằng Việt (sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941) là một nhà thơ Việt Nam. Ông đă từng là Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam và đang là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội.
Tiểu sử
Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt Bằng, nguyên quán xă Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây nhưng ông sinh tại thành phố Huế và học trung học tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lư, Đại học Tổng hợp Kiev vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xă hội Việt Nam. Đến năm 1969, ông chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1970, ông tham gia công tác ở chiến trường B́nh Trị Thiên, với tư cách là một phóng viên chiến trường và làm tại Bảo tàng truyền thống cho đoàn Trường Sơn. Năm 1975, ông công tác ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới.
Sau khi về Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (gọi tắt là Hội Văn nghệ Hà Nội) năm 1983, ông được bầu làm Tổng thư kư Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1983-1989) và là một trong những người sáng lập tờ báo văn nghệ Người Hà Nội (xuất bản từ 1985).
Sau đó được bầu làm Uỷ viên Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, làm tổng biên tập tờ tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (1989-1991).
Năm 2001, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và được bầu lại làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2006 - 2010.
Tại Đại hội lần thứ VII Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (tháng 9 năm 2005), Bằng Việt được bầu làm một trong 5 Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Ông cũng từng làm Thư kư thường trực, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội (1991-2000).
Sau Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII, Bằng Việt đă đệ đơn lên Ban Chấp hành xin từ chức sau khi đă giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Thơ suốt hai nhiệm kỳ với lư do công việc.
Sự nghiệp
Bằng Việt làm thơ từ năm 13 tuổi nhưng bài thơ đầu tiên được công bố là bài Qua Trường Sa viết năm 1961. Ông đă thể nghiệm nhiều loại thơ không vần, xuống thang rồi bắc thang, tất cả những h́nh thức đă có trong thơ Việt Nam và thơ thế giới. Tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa của ông và Lưu Quang Vũ xuất bản lần đầu năm 1968 và mới được tái bản sau 37 năm.
Ông c̣n dịch thơ của các nhà thơ Yannis Ritsos (Hy Lạp), Pablo Neruda (Chile); các nhà thơ Nga cổ điển và hiện đại: A. Pushkin, M. Lermontov, S. Esenin, E. Evtushenko, O. Berggoltz, M. Aliger, A. Tvardovsky, M. Dudin, A. Akhmatova, R. Gamzatov...; các nhà thơ Pháp: G. Apollinaire, P. Eluard, J. Prévert và tham gia biên soạn một số từ điển văn học.
Ông cũng từng theo nghề luật cho đến khi thôi nhiệm kỳ cuối cùng ở Hội đồng Nhân dân thành phố (năm 2000).
Tác phẩm
] Sáng tác
• Hương cây - Bếp lửa, (Tập thơ; 1968, 2005), đồng tác giả với Lưu Quang Vũ.
Trong tập này có bài Bếp lửa (Household warm) sau này được in trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam.
...Giờ cháu đă đi xa
Có ngọn khói trăm tàu
Có niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng khi nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
• Những gương mặt - Những khoảng trời (Some faces and pieces of sky; 1973)
• Đất sau mưa (1977).
• Khoảng cách giữa lời (1984).
• Cát sáng (1985), in chung với Vũ Quần Phương.
• Bếp lửa - Khoảng trời (Tập thơ) (1986).
• Phía nửa mặt trăng ch́m (1995).
• Thơ Bằng Việt (Tập thơ), (2001).
• Ném câu thơ vào gió (Tập thơ; Flying a verse with the wind; 2003)
[sửa] Dịch thuật
• Hăy nói bằng ngôn ngữ của t́nh yêu (1978), thơ Yannis Ritsos (Hy Lạp), dịch chung với Tế Hanh, Phạm Hổ, Đào Xuân Quư
• Lọ lem (1982), thơ E. Evtushenko (Nga)
• TASS được quyền tuyên bố, tiểu thuyết Liên Xô
• Thơ trữ t́nh thế giới thế kỷ XX (hợp tuyển thơ dịch; 2005), NXB Văn Học và Công ty Văn hóa Việt
[sửa] Biên soạn
• Mozart, truyện danh nhân
• Từ điển Văn học, 2 tập, NXB Khoa học xă hội, 1983-1984, đồng tác giả
• Từ điển Văn học (bộ mới), NXB Thế Giới, 2004, đồng tác giả
• Từ điển tác gia văn học nước ngoài, đồng tác giả, Hữu Ngọc chủ biên
Giải thưởng
• Giải nhất về thơ của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1968)
• Giải thưởng dịch thuật văn học quốc tế và giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Ḥa b́nh Liên Xô trao tặng năm 1982
• Giải thưởng Nhà nước về văn học (do Chủ tịch nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng, 2001)
• Giải thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam (2002)
• Giải thưởng văn học ASEAN 2003 cho tập thơ "Ném câu thơ vào gió"
• "Giải thành tựu trọn đời" của Hội Nhà văn Hà Nội (2005) cho Thơ trữ t́nh thế giới thế kỷ XX, với nhận xét: "Nhiều bài đă trở nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong bốn thập kỷ qua, mang dấu ấn tâm hồn và nét sang trọng, tinh tế của người chuyển ngữ. Giải trao cho nhà thơ Bằng Việt để ghi nhận thành tựu trọn đời của một dịch giả tài hoa có nhiều đóng góp trong hoạt động giới thiệu văn chương nước ngoài".
Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng) sinh năm 1941 tại phường Phú Cát, thành phố Huế. Lớn lên ở Hà Tây. Học phổ thông tại Hà Nội. Năm 1961 được cử đi học luật tại Matxcơva (Liên Xô). Từng làm việc ở Hội Luật học, Hội nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Hà Nội.

Đă in các tập thơ: Hương cây - Bếp lửa (chung với Lưu Quang Vũ), Những gương mặt - Những khoảng trời, Đất sau mưa, Khoảng cách giữa lời, Phía nửa mặt trăng ch́m, Ném câu thơ vào gió,...

Những năm giữa thập kỷ sáu mươi, công chúng văn học đă chứng kiến sự xuất hiện của một loạt cây bút mới mà chỉ ít lâu sau đă trở thành chủ lực của thi đàn. Đó là Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Bế Kiến Quốc, Vương Anh, Phan Thị Thanh Nhàn... Vài năm sau lại là Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc... Trong đội ngũ đông đúc này, Bằng Việt là một gương mặt riêng, có một chất riêng, không bị khuất lẫn, 'mất hút' trong một dàn đồng ca. Cái chất riêng ấy là ǵ? Nhiều người từng biểu dương phần 'trí tuệ', phần suy tưởng mà vẫn sinh động, gần gũi với cuộc sống của một cây bút trí thức sớm bộc lộ từ phần 'Bếp lửa' in chung với Lưu Quang Vũ. Thật ra Bằng Việt chỉ thật sự khẳng định được ḿnh ở tập thơ thứ hai: tập Những gương mặt - Những khoảng trời (1973). Đây có thể coi là kết quả của chuyến 'đi thực tế' nhớ đời của nhà thơ trẻ vốn được số phận ưu đăi này. Cả tập thơ là một sự ngạc nhiên lớn, một sự cảm động chân thành của người trí thức trẻ khi tham gia trực tiếp vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước, trước hết là với cái tập thể trẻ trung, dũng cảm ở Trường Sơn. Thơ Trường Sơn của Bằng Việt khác với những nhà thơ lính vô danh đă đành, cũng rất khác với thơ của 'ông vua' thơ Trường Sơn là Phạm Tiến Duật. Phạm Tiến Duật là một người lính thực sự đă sống đủ, sống kỹ cái đời sống Trường Sơn, từ đó cất lên tiếng thơ độc đáo không thể trộn lẫn. Bằng Việt là người của hậu phương đến với Trường Sơn. Anh không thể hiểu cảnh và người Trường Sơn bằng những người lính làm thơ, nhưng anh có những lợi thế của người mới đến, các giác quan chưa bị ṃn nhẵn, trơ ĺ. Khoảng cách giữa 'người hậu phương' và người Trường Sơn không xa như giữa các nhà thơ 'tiền chiến' và người lính chống Pháp nhưng dù sao vẫn là khoảng cách. Khoảng cách này cắt nghĩa v́ sao Bằng Việt hay dùng giọng b́nh luận, thuyết minh trong nhiều bài thơ, chẳng hạn 'Có ǵ cảm động đơn sơ lắm: Cái ngủ thời nào vẫn ngủ trưa nay!' (Nhà giữ trẻ); hoặc 'Thế đấy, cuộc đời/ Có những phút bất thần thành hạnh phúc!' (Trước cửa ngơ chiến trường)... Bằng Việt b́nh luận, thuyết minh, thuyết phục ai? Cho những 'người hậu phương' như anh, nhiều khi là cho chính anh, một Bằng Việt của mơ mộng, của thi ca, sách vở 'ngày xưa', đôi khi chưa là một với một Bằng Việt hôm nay đang hào hứng, quyết tâm đi vào cuộc sống chiến đấu của hàng triệu, hàng triệu người. Khi hai con người ấy ḥa làm một, Bằng Việt đă có bài thơ Mẹ (1972), một trong những bài thơ hay nhất của anh và cũng là một bài thơ xứng đáng trong mọi tuyển tập thơ về giai đoạn ấy. Khác với giọng kể lể đôi khi dài ḍng ở một số bài mang tính 'triết luận' vu khoát, mông lung, ở bài 'Mẹ', Bằng Việt khá gọn gàng, mực thước. T́nh cảm chân thật khiến anh không cần nhiều lời mà giọng thơ vẫn thấm thía, lay động ḷng người:
Con bị đau, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng. Tiếng chân đi rất nhẹ
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua...
H́nh bóng mong manh của người mẹ nghèo, tuổi già, bản vắng, đường xa, chiến tranh, cuộc gặp gỡ t́nh cờ... đặt giữa khung cảnh Trường Sơn khắc nghiệt khiến đứa con - tác giả - tiên liệu trước cuộc từ biệt cũng là vĩnh biệt. Sự biết ơn trước tấm ḷng cao cả của nhân dân trong chiến tranh không cần nói ra người đọc vẫn cảm nhận được đầy đủ. Bài thơ đạt đến độ hàm súc, 'ư tại ngôn ngoại'.

Trong Tuyển Thơ 135 bài đương soạn, Bằng Việt tự xếp thơ ḿnh vào ba phần. Phần I có tên chung Chứng tích một thời, phần II Tự bạch, phần III Những trải nghiệm. Anh giải thích: "làm như thế là học cách kết cấu của một bản giao hưởng, mở đầu là sôi nổi, cuốn hút, tiếp theo là trầm lắng, trữ t́nh và phần cuối là đúc kết. Nếu cần chọn một đại diện cho phần II, có lẽ bài Nghĩ lại về Pauxtôpxky là thích hợp hơn cả". Những năm 60 của thế kỷ trước, nhà văn Nga - Xô-viết Pauxtôpxky là thần tượng của cả một lớp thanh niên Việt Nam vào đời với đầu óc thấm đẫm t́nh cảm lăng mạn (tích cực). Bài thơ của Bằng Việt, như thường thấy, là sự tranh biện với chính ḿnh và thế hệ ḿnh. Về lư trí, dường như tác giả muốn 'dứt khoát' với những ảo tưởng lăng mạn kiểu Pau 'Đưa em đi...
Tất cả thế xong rồi
Ta đă lớn.
Và Pauxtôpxky đă chết!' Nhưng cả bài thơ tỏ ra rằng, tác giả sẽ c̣n luyến nhớ lâu lắm, có lẽ là măi măi, 'cái thời lăng mạn' ấy.

'Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu...'. Nghe nói, nhờ bài thơ này và nhiều bài thơ dịch của Onga Bécgôn mà Bằng Việt trở thành thần tượng của cánh sinh viên khoa văn các trường đại học một thời. Những câu thơ chấm phá rất 'sương khói', sự hiểu biết và đồng cảm về một chân trời văn học đương có sức hấp dẫn lớn, giọng thơ là lạ và mới vào thời điểm ấy (1969) là những nguyên nhân khiến bài thơ neo được vào tâm trí bạn đọc. Cần nói thêm về giọng thơ: Bằng Việt có cái kiểu dàn trải rất 'Bằng Việt', ở người khác th́ có thể là một nhược điểm nhưng ở anh th́ lại tạo ra một cái duyên riêng. Cái giọng ấy có từ bài thơ nổi tiếng 'Trở lại trái tim ḿnh' (1967), Bằng Việt tự nhận là 'viết theo giọng Nêruđa'. Từ cái tứ rất b́nh thường, trở lại với Thủ đô là 'trở lại trái tim ḿnh', Bằng Việt đă có những câu thơ, đoạn thơ rất giàu h́nh ảnh, tinh tế, một nhạc điệu tha thiết tuy chưa đến mức nồng nhiệt nhưng chân thành, nhờ thế bài thơ đă đứng được với năm tháng. Anh c̣n một số bài khác thành công theo kiểu này nhưng cũng không ít bài sự dài ḍng, nhiều lời khi cảm xúc không đủ độ chín khiến bạn đọc hờ hững. Tôi có thiện cảm với thơ lục bát của Bằng Việt. Thật ngạc nhiên là một cây bút 'Tây' như thế lại có thể vận dụng thể thơ dân tộc rất nhuần nhị. Đó là Truông nhà Hồ, Cuối năm, Về Huế đêm rằm... nhất là Về Hương Sơn năm sơ tán ấy (1974) và Lục bát cầu may (2000). Lục bát của Bằng Việt viết thoải mái, cứ như là phóng bút viết chơi, không kỳ khu chặt chẽ quá cả về cấu tứ lẫn vần điệu, không đẩy tâm trạng đến mức độ đau đớn, cực đoan mà chỉ bàng bạc, khơi gợi 'Lanh tanh vẫn nước ḷng khe/ Ngẩn ngơ chim núi se se dặm rừng'; hoặc 'Nếu em là kiếp bềnh bồng/ Th́ tôi vĩnh viễn phải ḷng phù du/ Nếu em khoát mở sa mù/ Th́ tôi vĩnh viễn hóa bờ bến xa'... Phải chăng tâm hồn phóng túng mang đậm dấu vết của văn hóa Nga được dồn nén trong 'khuôn phép' của thể thơ cổ truyền Việt Nam đă làm nên phong vị riêng cho lục bát của Bằng Việt?

Trong 'thế hệ sáu mươi', 'thế hệ Trường Sơn' trên văn đàn, Bằng Việt có vị trí khá ổn định và vững chắc. Tập thơ mới nhất Ném câu thơ vào gió (2000) chứng tỏ sức sáng tạo của anh c̣n dồi dào. Có được một tiểu sử văn học phong phú như anh không phải là điều dễ dàng.



Blue_topaz - August 16, 2007 04:52 AM (GMT)
Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ Việt Nam, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá 9, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam.
Tiểu sử
• Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943, tại thôn U Điềm, xă Phong Hoà, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, con của nhà cách mạng Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (Nguyễn Khoa Hải Triều), ḍng dơi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (Hải Dương cũ).
• Quê gốc: làng An Cựu, xă Thuỷ An, thành phố Huế.
• Hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội.
• Tốt nghiệp Đại học Sư phạm 1964, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1975).
• Lúc nhỏ đi học ở quê, năm 1955 ra miền Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm năm 1964, vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế; tham gia quân đội, xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ... cho đến năm 1975.
• Sau giải phóng tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản; Chủ tịch Hội Văn nghệ B́nh Trị Thiên, Phó bí thư thường trực tỉnh uỷ Thửa Thiên - Huế. Đă tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn khoá 3. Năm 1994 ra Hà Nội, làm thứ trưởng Bô Văn hoá - Thông tin. Năm 1995, được bầu làm Tổng Thư kư Hội Nhà văn Việt Nam khóa 5.
• Năm 1996, được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá X), Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin.
• Ông đă được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm.
Tác phẩm
1. Báo động
2. Bếp lửa rừng
3. Bước chân - Ngọn đèn
4. Cái nền căm hờn
5. Cát trắng Phú Vang
6. Chiều Hương Giang
7. Con chim thời gian
8. Con gà đất, cây kèn và khẩu súng
9. Đất ngoại ô
10. Đất nước
11. Giặc Mỹ
12. Gửi anh Tường
13. H́nh dung về Chê Ghêvara
14. Hồi kết cuộc
15. Khoảng trời yêu dấu
16. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
17. Lau
18. Lời chào
19. Màu xanh lên đường
20. Mùa Xuân ở A Đời
21. Ngày vui
22. Nghĩ về một nhăn hiệu
23. Người con gái chằm nón bài thơ
24. Nơi Bác từng qua
25. Nỗi nhớ
26. Tháng chạp ở Hồng Trường
27. Thưa mẹ con đi
28. Tiễn bạn cuối mùa đông
29. T́nh Ca
30. Tôi lại đi đường này
31. Trên núi sông
32. Từ những ǵ các anh trao?
33. Tuổi trẻ không yên
34. Vỗ Hờn
35. Xanh xanh bóng núi
36. Xuống đường
Trích bài thơ "Đất nước":
Khi ta lớn Đất Nước đă có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa..." mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân ḿnh biết trồng tre mà đánh giặc...


Blue_topaz - August 16, 2007 04:56 AM (GMT)
Nguyễn Duy
Tên thật Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê Thanh Hóa.

Ông làm thơ khá sớm, từ đầu thập niên 70, thơ ông đăng rải rác trên báo chí miền Bắc. Giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ tổ chức tại Hà Nội 1972-1973 với những tác phẩm trong tập thơ Cát trắng.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Cát trắng (1973), Phóng sự 30-4-75 (1981), Ánh trăng (1984), Đăi cát t́m vàng (1987), Mẹ và Em (1987); kịch thơ Em sóng (1983); tiểu thuyết Khoảng cách (1986); bút kư Nh́n ra bể rộng trời cao (1986)...

Ông được coi là một Nguyễn Huy Thiệp trong lănh vực thơ ca (theo Nguyễn Hưng Quốc), nhiều bài thơ ông bị cấm phổ biến v́ bày tỏ thái độ bất măn và phản kháng.

Nhận xét của Trịnh Công Sơn về Nguyễn Duy: "H́nh hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, c̣n thơ Nguyễn Duy là thứ cây quư mọc trên đám đất hoang đó..."



Nguyễn Duy sinh ngày 7 tháng 12 năm 1948 tại xă Đông Vệ, thị xă Thanh Hóa. Năm 1965, anh từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mỹ trong những năm chiến tranh. Năm 1966 anh nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin. Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Khe Sanh, Đường Chín, Nam Lào, rồi sau này là mặt trận phía Nam, mặt trận phía Bắc (1979).

Nguyễn Duy làm thơ rất sớm. Tác phẩm đầu tay của anh là bài thơ Trên sân trường, anh viết từ đầu những năm sáu mươi, khi đang c̣n là một học sinh phổ thông ở trường Lam Sơn, Thanh Hóa. Nhưng phải măi đến năm 1973, anh mới thực sự nổi tiếng với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam. Và cũng bắt đầu từ đấy, chúng ta có Nguyễn Duy, một thi sĩ đặc sắc cuối những năm chiến tranh và lại rực rỡ trong ḥa b́nh. Đến giai đoạn này, thơ Nguyễn Duy mới thực sự chín. Có thể nói mà không sợ quá lời rằng anh là thi sĩ nổi bật nhất ở giai đoạn cuối chiến tranh cho đến đầu thời kỳ đổi mới. Tập sơ tuyển Mẹ và em (1987) là tập thơ đặc sắc nhất của anh. Hầu hết những bài thơ hay nhất trong đời thơ Nguyễn Duy đều nằm trọn trong tập thơ ấy. Sau này, Nguyễn Duy viết vẫn c̣n hay. Anh có một tập thơ nữa cũng rất khá, nhưng các nhà phề b́nh và bạn đọc dường như rất ít người để ư. Đó là tập Đường xa.

Đọc Nguyễn Duy, ta thấy anh đi nhiều: Lạng Sơn, Đồng Đăng, Ải Chi Lăng, Sông Thao, Hà Nội, Đ̣ Lèn, Cầu Bố, Nha Trang, Đà Lạt, Sông Tiền, Sông Hậu, rồi những vùng đất xa ngái ở xứ người: Matxcơva, Arêkhôvơ, Kiep, Boston... Bao nhiêu là địa danh. Đến đâu, Nguyễn Duy cũng có thơ và thơ hay. Mảng thơ viết về nước ngoài của anh đă thoát khỏi lối thơ giao đăi, thù tạc của rất nhiều nhà thơ ta khi viết về nước ngoài. Ngay cả những bài thơ thuộc hạng xoàng xoàng của Nguyễn Duy cũng có những câu thơ hay, thậm chí là rất hay, đọc bị ám ảnh, không sao quên được. Tôi nhớ có một bài thơ Nguyễn Duy viết về những người lính ở biên giới. Bài thơ này sau không thấy in lại trong các tập thơ của anh, nhưng vẫn có những câu rất thích. Anh lính nhớ quê nhà:

Giọt sương muối co ro đầu nhánh mạ
Lầm lụi bàn chân ph́ phọp thở trong bùn...
Viết về nông dân như thế là tài lắm. Nguyễn Duy có không ít những câu thơ như vậy nằm rải rác trong những bài thơ không mấy tiêu biểu của anh. Nhưng đặc sản của Nguyễn Duy lại là thơ lục bát. Đây là một thể thơ rất dễ viết, có cảm giác như ai cũng viết được, nhưng viết được hay th́ lại khó vô cùng. Nguyễn Duy là một trong số rất ít những nhà thơ hiện nay có sở trường về thể loại thơ hóc hiểm này. Lục bát của Nguyễn Duy rất hiện đại. Câu thơ vừa phóng túng, ngang tàng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ, với một bút pháp khá điêu luyện. Nguyễn Duy là người có công trong việc làm mới thể thơ truyền thống này.

Nhà thơ nào rồi cũng phải trải qua sự sàng lọc rất nghiệt ngă của thời gian. Có thể vị trí của nhiều nhà thơ sẽ có sự thay đổi, đảo lộn theo đúng giá trị đích thực mà họ có. Mặc dù vậy, tôi tin, Nguyễn Duy vẫn là một trong số rất ít những thi sĩ đương đại có số lượng tác phẩm c̣n lại nhiều nhất sau sự sàng lọc của thời gian...



Blue_topaz - August 16, 2007 05:01 AM (GMT)
Kim Lân (sinh 1 tháng 8 năm 1920 - mất 20 tháng 7 năm 2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài, là một nhà văn Việt Nam.
Tiểu sử
Ông quê ở làng Phù Lưu, xă Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đ́nh khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện (Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa,...) mang tính chất tự truyện nhưng đă thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó.
Ông được dư luận chú ư nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả chim...). Các truyện: Đôi chim thành, Con mă mái, Chó săn... kể lại một cách sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám - những người sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.
Sau Cách Mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn. Ông vẫn chuyên về truyện ngắn và vẫn viết về làng quê Việt Nam - mảng hiện thực mà từ lâu ông đă hiểu biết sâu sắc. Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).
Sinh thời ông sống tại Hà Nội. Ông từ trần năm 2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn, hưởng thọ 87 tuổi.
Sự nghiệp văn học
Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đă viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng t́nh cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.
Truyện ngắn Vợ nhặt và Làng của Kim Lân đă được đưa vào trong sách giáo khoa ở Việt Nam. Năm 2005, truyện Vợ nhặt được đưa vào đề thi môn văn kỳ thi của Đại học Kinh tế Huế và Nguyễn Thị Thu Trang đă đạt điểm 10, gây xôn xao dư luận một thời. Truyện Làng được viết về nông thôn Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp và một gia đ́nh người tản cư thời đó.
Về tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân viết:
"Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ư khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người."
Ông là cha của họa sĩ Thành Chương, nữ họa sĩ Nguyễn Thị Hiền và là bố chồng của diễn viên Thanh Quư. Trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy, ông đă tham gia đóng vai Lăo Hạc, một nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Truyện ngắn
• Đứa con người vợ lẽ
• Nên vợ nên chồng
• Làng
• Vợ nhặt
• Con chó xấu xí (1962)

Blue_topaz - August 17, 2007 02:45 AM (GMT)
Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Thành Long.

Sinh năm: 1925

Mất năm: 1991

Nơi sinh: Duy Xuyên - Quảng Nam.

Bút danh: Nguyễn Thành Long, Phan Minh Thảo, Lưu Quỳnh.

Thể loại: kư, truyện ngắn.

Các tác phẩm:

Bát cơm cụ Hồ (tập bút kư, 1952)

Gió bấc gió nồm (tập bút kư, 1956)

Hướng điền (tập truyện ngắn, 1957)

Chuyện nhà chuyện xưởng (tập truyện ngắn, 1962)

Trong gió băo (truyện, 1963)

Giữa trong xanh (tập truyện ngắn, 1972)

Nửa đêm về sáng (tập truyện ngắn, 1978)

Lư Sơn, mùa tỏi (tập truyện ngắn, 1981)

Giải thưởng văn chương:

Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Chi hội văn nghệ liên khu V trao tặng năm 1953 cho tập bút kư “Bát cơm cụ Hồ”.


Blue_topaz - August 17, 2007 03:00 AM (GMT)
•Nguyễn Quang Sáng (c̣n có bút danh Nguyễn Sáng) sinh ngày 12 tháng l năm 1932.
Quê gốc: xă Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Hiện sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Từ tháng 4 năm 1946, vùng đất Nam Bộ đang trong cuộc chiến ác liệt chống thực dân Pháp, Nguyễn Quang Sáng xung phong vào bộ đội, làm liên lạc viên cho đơn vị Liên Chi 2.
Đến năm 1948 được bộ đội cho đi học thêm văn hoá ở trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Năm 1950, về công tác tại pḥng chính trị Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo (chủ yếu là Phật giáo và Hoà Hảo).
Năm 1955 theo (đơn vị tập kết ra Bắc, chuyển ngành với cấp bậc chuẩn úy, về làm cán bộ pḥng Văn nghệ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Từ năm 1958, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ biên tập nhà xuất bản Văn học, cán bộ sáng tác.
Năm 1966 vào chiến trường miền Nam, làm cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ Giải phóng. Năm 1972, trở ra Hà Nội, tiếp tục làm việc ở Hội Nhà văn.
Sau ngày giải phóng (4-1975) trở lại thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức Tổng thư kư Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh khóa l, khóa 2 và khóa 3 hiện nay.
Nguyễn Quang Sáng là ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá 2, khoá 3 và là Phó tổng thư kư Hội Nhà văn khoá 4.

Tác phẩm chọn lọc

* Văn xuôi:
- Con chim vàng (1957);
- Người quê hương (truyện ngắn, 1958);
- Nhật kư người ở lại (tiểu thuyết, 1962 );
- Đất lửa (tiểu thuyết, 1963);
- Câu chuyện bên trận dịa pháo (truyện vừa, 1966);
- Chiếc lược ngà (truyện ngắn, 1968);
- Bông cẩm thạch (truyện ngắn 1969);
- Cái áo thằng h́nh rơm (truyện vừa, 1975);
- Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975);
- Người con đi xa (truyện ngắn, 1977);
- Ḍng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985);
- Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện ngắn, 1985);
- Tôi thích làm vua (truyện ngắn, 1988);
- 25 truyện ngắn (1990);
- Paris - tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990);
- Con mèo Fujita (truyện ngắn - 1991).

* Kịch bản phim:
- Mùa gió chướng (1977);
- Cánh đồng hoang (1978),
- Pho tượng (1981);
- Cho dến bao giờ (1982);
- Mùa nước nổi (1986);
- Ḍng sông hát (1988);
- Câu nói dối đầu tiên (1988);
- Thời thơ ấu (1995);
- GilZa ḍng (1995);
- Như một huyền thoại (1995).

* Ông đă được nhận nhiều giải thưởng văn học:
- Ông Năm Hạng - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất (1959);
- Tư Quắn - truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội (1959);
- Ḍng sông thơ ấu - giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985);
- Con mèo của Pujita - tập truyện ngắn, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994;
- Cánh đồng hoang (kịch bản phiin) bộ phim được tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim ở Matxcơva (1981);
- Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc
SR:Fahasa
Edit by me

Blue_topaz - August 17, 2007 03:06 AM (GMT)
Lỗ Tấn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗ Tấn( 25 tháng 9, 1881 – 19 tháng 10, 1936) là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc. Ông được giới nghiên cứu văn chương coi là người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc và là bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là AQ chính truyện.




Tiểu sử
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân (Hán phồn thể: 周樹人, Hán giản thể: 周树人; bính âm: Zhōu Shùrén), hiệu Dự Tài, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881 tại huyện Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang trong một gia đ́nh quan lại đă sa sút. Cha của ông là Chu Bá Nghi đỗ tú tài nhưng không được ra làm quan, bị bệnh mất sớm. Mẹ của ông là Lỗ Thụy. Bà đă sớm có ảnh hưởng đến khả năng văn chương của Lỗ Tấn kể cho ông nghe nhiều truyện cổ dân gian. Lỗ Tấn là bút danh ông lấy từ họ mẹ. Năm 1899, ông đến Nam Kinh theo học ở Thủy sư học đường (trường đào tạo nhân viên hàng hải). Hai năm sau, ông thi vào trường Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ sư mỏ địa chất). Năm 1902, Lỗ Tấn du học Nhật Bản, tại đây ông tham gia Quang Phục hội, một tổ chức yêu nước của người Trung Quốc. Sau hai năm học tiếng Nhật, năm 1904, ông chính thức vào học ngành y ở trường Đại học Tiên Đài. Năm 1906, ông thôi học và bắt đầu hoạt động văn nghệ bằng việc dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học châu Âu như thơ Puskin, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Jules Vernes. Năm 1909, v́ hoàn cảnh gia đ́nh, Lỗ Tấn trở về Trung Quốc. Ông dạy ở trường trung học Thiệu Hưng và có làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng một thời gian. Từ 1920 đến 1925, Lỗ Tấn làm việc tại các trường Đại học Bắc Kinh, Cao đẳng Sư phạm Bắc Kinh và Đại học nữ Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1926, ông tới Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến) và làm việc tại trường Đại học Hạ Môn. Đầu năm 1927, Lỗ Tấn đến Quảng Châu, làm trưởng pḥng giáo vụ kiêm chủ nhiệm khoa văn của trường Đại học Trung Sơn. Tháng 10 năm 1927, ông rời Quảng Châu tới Thượng Hải và ở lại đây đến lúc qua đời (1936).

Sự nghiệp văn học
Lỗ Tấn rất ưa thích các tác phẩm của Nikolai Gogol. Năm 1918, truyện ngắn đầu tay của Lỗ Tấn là Nhật kí người điên lần đầu tiên được in trên tờ Thanh niên mới số tháng 5-1918, truyện được lấy tên dựa theo truyện ngắn Nhật kư của một người điên của Gogol. Từ 1918 đến 1927, Lỗ Tấn viết nhiều truyện ngắn và tạp văn. Về truyện ngắn có 2 tập: Gào thét (14 truyện) và Bàng hoàng (11 truyện). Về tạp văn có 7 tập. Giai đoạn từ 1928 đến khi mất, ông viết tập truyện ngắn Chuyện cũ viết lại (gồm 8 truyện) và 9 tập tạp văn. Ngoài ra, ông c̣n dịch nhiều tác phẩm văn học thế giới ra tiếng Trung.
Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng thuyết tiến hoá của Đacuyn (C. R. Darwin), mượn lí thuyết sinh vật học này để nói rơ tiến hoá là cần thiết. Về sau, qua thực tế đấu tranh xă hội, Lỗ Tấn tiếp thu chủ nghĩa Mac - Lênin. Hơn 20 năm sử dụng ng̣i bút như vũ khí, Lỗ Tấn tập trung mổ xẻ các căn bệnh tinh thần của đồng bào ḿnh. Biểu hiện tập trung nhất là "phép thắng lợi tinh thần" được miêu tả sinh động trong thiên truyện vừa nổi tiếng "AQ chính truyện" (1921). Đó là tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất tư tưởng và phong cách nhà văn. Trong hàng loạt các tập "tạp văn", Lỗ Tấn c̣n lên án mạnh mẽ các loại kẻ thù của nhân dân, của cách mạng như bọn phong kiến, bọn quân phiệt tay sai đế quốc, chính quyền tư sản phản động cùng bọn bồi bút chó săn. Đó là những thế lực đang lợi dụng sự mê muội và sự tự thoả măn của nhân dân để cản phá con đường giải phóng dân tộc. Lỗ Tấn c̣n là nhà nghiên cứu lịch sử văn học, để lại hai bộ sách có giá trị: "Đại cương lịch sử văn học Hán", "Lược sử tiểu thuyết Trung Quốc". Ngoài ra c̣n có nhiều tác phẩm dịch văn học Nga, Xô Viết, Đông Âu, Bắc Âu, vv. Lỗ Tấn phát huy đầy đủ thiên chức văn nghệ, hỗ trợ đắc lực cho công cuộc giải phóng dân tộc, trở thành ngọn cờ của nền văn học cách mạng Trung Quốc.
Edit by me

BaByShinkai - August 31, 2007 04:51 AM (GMT)
cÁm Ơn n` n` cÁi nÀy rẤt chi lÀ cẦn

MyLOv3_uhp - September 1, 2007 02:14 AM (GMT)
THANKS bạn hiền nha!!!! nhưng sao ko coa' h́nh (làm ơn kiếm h́nh giùm tui di , tui ko bt' kiếm ở đâu hết

candy_lavigne - September 1, 2007 03:03 AM (GMT)
user posted image
Kim Lân
user posted image
nhà văn Nguyễn Khoa Điềm
user posted image
Bằng Việt
user posted image

candy_lavigne - September 1, 2007 03:45 AM (GMT)
Phạm Tiến Duật
user posted image
Huy Cận
user posted image
Chính Hữu
user posted image
Nguyễn Đ́nh Chiểu
user posted image

candy_lavigne - September 1, 2007 03:48 AM (GMT)
Lỗ Tấn
user posted image

BaByShinkai - September 1, 2007 04:45 AM (GMT)
mẤy ôNg nẦy đẸp zai wÉ :))

thaovy_2702 - September 2, 2007 02:57 AM (GMT)
Ḿnh xin giới thiệu 1 bài b́nh luận về bút pháp Ước lệ của Nguyễn Du trong truyện Kiều!!
Ước lệ được xem là một đặc điểm thi pháp của văn học trung đại. Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du sử dụng khá nhiều bút pháp ước lệ. Có điều nhà thơ sử dụng một cách hết sức linh hoạt, sáng tạo nên tránh được sáo ṃn, nhàm chán. Không những thế bút pháp ước lệ của Nguyễn Du c̣n góp phần diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc tâm trạng nhân vật.

Điều đó được thể hiện rất rơ qua cảnh Thuư Kiều đưa tiễn Thúc Sinh về tự thú với Hoạn Thư.

Thường thường khi chia tay, người ta hay nắm lấy áo nhau tỏ t́nh quyến luyến, bịn rịn. Níu áo dần trở thành một cách nói quen thuộc: "Chàng ơi buông áo em ra/ Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa" (Ca dao). Trong buổi tiễn đưa, Kiều cũng níu áo chàng Thúc. Cho đến lúc chàng lên ngựa, nàng mới chịu "chia bào" (buông áo). Theo logic b́nh thường, người này có buông áo, người kia mới được lên ngược. Ở đây, Nguyễn Du cố ư sắp xếp ngược lại: "Người lên ngựa, kẻ chia bào". Theo tôi, đây là một chi tiết cần được quan tâm. Bởi v́ qua cái chi tiết ngỡ như phi logic này, Nguyễn Du không chỉ thể hiện nỗi vấn vương, lưu luyến mà c̣n thể hiện tâm trạng đầy lo lắng của Kiều. Nàng cố níu giữ Thúc Sinh cho đến giây phút cuối cùng. Kiều khuyên Thúc Sinh về tự thú với Hoạn Thư là mong muốn cuộc sống yên ổn lâu dài. Nhưng trong nửa năm chung sống, qua chàng Thúc, nàng đă biết ít nhiều về Hoạn Thư. Riêng cái uy con gái Thượng thư Bộ lại của Hoạn Thư cũng đă đủ cho Thuư Kiều e ngại. Nàng lo sợ mất chàng, mất cái chỗ dựa duy nhất giữa chốn "nước non quê người", nàng lại sẽ rơi vào cảnh bơ vơ chân trời góc bể. V́ vậy, nàng cố níu giữ chàng ngay cả khi chàng đă lên ngựa. Bằng một chi tiết có tính ước lệ, Nguyễn Du đă phần nào diễn tả được cái tâm trạng ngổn ngang trăm mối của nàng Kiều.

Rừng phong thu lúc chớm thu lá dần ngả sang màu đỏ được nhắc đến khá nhiều trong thơ cổ điển Trung Hoa. Cái màu đỏ của lá phong thu có tính ước lệ này qua tay thiên tài Nguyễn Du đă biến thành “màu quan san” - gợi sự xa xôi, cách trở. Phải thật hiểu tâm trạng bất an của Kiều khi chia tay Thúc Sinh, Nguyễn Du mới sáng tạo ra cái “màu quan san” độc đáo ấy. Nghĩa là lá phong đang ngả dần sang màu đỏ. Kiều đưa tiễn Thúc Sinh lúc mới sang thu. Nhưng "nhuốm màu quan san" lại rất phù hợp với tâm trạng lo lắng, bất an của nàng Kiều lúc này. Chỉ thay một dấu từ "nhuộm" sang "nhuốm" mà cái "màu quan san" càng thêm xa xôi, cách trở. Đây cũng là một dụng ư nghệ thuật của Nguyễn Du chăng?

Thúc Sinh đi rồi, Kiều cứ đứng nh́n theo măi: "Dặm hồng bụi cuốn chinh an/ Trông người đă khuất mấy ngàn dâu xanh". Thường khi tả đoàn quân xuất trận mới có cảnh "dặm hồng bụi cuốn". Trong Binh xa hành của Đỗ Phủ, cùng với tiếng ngựa phi là cảnh cát bụi bay ngút trời. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm : "Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". "Bụi cuốn” nghĩa là bụi mù trời, gió ào ào… Nguyễn Du tả cảnh Thúc Sinh về Vô Tích gặp Hoạn Thư chẳng khác ǵ đi ra chiến trận. Theo logic b́nh thường th́ không thật đúng. Nửa năm ăn ở với người đẹp, giờ phải chia tay, chàng Thúc chắc bịn rịn lắm. Nếu có phi th́ chàng cũng chỉ phi nước kiệu thôi. Làm ǵ có chuyện "bụi cuốn" mù trời như thế. Ngay cả khi chia tay Hoạn Thư, vừa lên ngựa chàng đă: "thẳng ruổi nước non quê người ", vẫn không thấy Nguyễn Du miêu tả một tư bụi nào. Cho dù thẳng ruổi là phi rất nhanh, phi theo kiểu nước đại để mau về gặp lại nàng Kiều. Với tâm trạng rất háo hức, Thúc Sinh nh́n cái ǵ cũng đẹp: "Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng". Phi nước đại như thế th́ không có một tư bụi nào. C̣n "phi nước kiệu lại "dặm hồng bụi cuốn"? Đây chính là cảnh được nh́n qua tâm trạng đầy lo âu của nàng Kiều: chàng Thúc như đang đi vào nơi đầy gió bụi, chẳng khác ǵ ra trận. Bởi v́ chàng sắp chiến đấu với Hoạn Thư - một cuộc chiến đấu không cân sức giữa anh chồng non gan và bà vợ vừa đầy uy lực, vừa đầy mưu ma, chước quỷ làm sao mà Kiều có thể yên tâm được. Một lần nữa ta hiểu thêm dụng ư nghệ thuật của Nguyễn Du qua một chi tiết tưởng như hết sức b́nh thường.

Sau khi tiễn đưa Thúc Sinh: "Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một ḿnh xa xôi", Kiều ngẩng lên trời và hoảng hốt: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi…". Vầng trăng đầu tháng cũng được nh́n qua tâm trạng của nàng Kiều. Nàng đang linh cảm về một sự chia ĺa, một sự "tan đàn xẻ nghé". Ca dao cũng có câu tương tự: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?". Sau này thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đau đớn thốt lên: "Đêm nay c̣n nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ người xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi" (Một nửa trăng). Nhưng theo tôi, hai câu của Nguyễn Du mang nhiều tầng nghĩa hơn. Bởi v́ trăng của Nguyễn Du dù có bị xẻ làm đôi nhưng không chịu chia ĺa: "Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường". Phải chăng, nhà thơ mượn hai nửa vầng trăng để bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc của ḿnh trước cảnh chia ly của Thúc Sinh - Thuư Kiều? Và phải chăng đó cũng là mong muốn của Kiều. Kiều nhờ một nửa trăng giúp chàng Thúc thấu hiểu tâm trạng lẻ loi cô đơn của ḿnh, một nửa kia nàng muốn trăng thay nàng soi đường cho chàng? Qua tưởng tượng của Kiều, con đường Thúc Sinh đang đi đầy gió, đầy bụi, đầy chông gai hiểm trở. Thúc Sinh th́ đơn thương độc mă, ước ǵ nàng có thể ở bên cạnh chàng…

Rơ ràng bằng những chi tiết, những h́nh ảnh có tính ước lệ hết sức quen thuộc, Nguyễn Du đă biến hoá, đă nhào nặn trở thành những chi tiết nghệ thuật hết sức mới lạ, độc đáo. Nếu cứ theo logic b́nh thường ta tha hồ bắt bẻ nhà thơ. Song sáng tạo nghệ thuật có quy luật riêng của nó. Cái tưởng như phi lư lại rất có lư nếu ta hiểu được dụng ư tác giả. Lạ hoá bút pháp ước lệ là một trong những biệt tài của Nguyễn Du. Càng đọc, càng nghiền ngẫm Truyện Kiều, chúng ta càng khám phá nhiều điều mới mẻ trong thế giới nghệ thuật đa dạng của ông.


Theo Văn học và Tuổi trẻ




--------------------------------------------------------------------------------


BaByShinkai - September 5, 2007 01:39 AM (GMT)
pÉ vY post bÀi nÀy nAi Ế :)

Blue_topaz - September 14, 2007 08:42 AM (GMT)
NGUYỄN Đ́NH THI

Nguyễn Đ́nh Thi quê ở Hà Nội nhưng sinh ở Luang Prabang (Lào). Đến năm tuổi, Nguyễn Đ́nh Thi theo bố mẹ trở về nước và đi học ở Hà Nội rồi Hải Pḥng. Từ nhỏ, Nguyễn Đ́nh Thi đă nổi tiếng thông minh, học rất giỏi tất cả các môn, đặc biệt là môn Triết. Đang đi học mà ông đă viết sách triết học như "Triết học nhập môn" (1942), "Triết học Căng" (1942), "Triết học Nitsơ" (1942), "Triết học Anhxtanh" (1942), "Siêu h́nh học" (1942) và cùng một số người bạn học bí mật nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông học Luật ở Đại học Đông Dương và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Hội Văn hoá Cứu quốc. Là trí thức yêu nước, Nguyễn Đ́nh Thi đă sớm trở thành người chiến sĩ cách mạng trung kiên. Ông đă từng là đại diện của Việt Minh trong Đảng Dân chủ. Hai lần bị kẻ thù bắt bớ, tra tấn, mua chuộc nhưng ông vẫn một ḷng thuỷ chung với cách mạng. Tháng 7.1945, Nguyễn Đ́nh Thi được đi dự Quốc dân Đại hội tại Tân Trào và được cử vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Từ đó cho đến cuối đời, Nguyễn Đ́nh Thi liên tục đảm nhận những cương vị quan trọng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật: Tổng thư kư Hội Văn nghệ, Tổng thư kư Hội Nhà văn, Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam.

Nguyễn Đ́nh Thi là người hoạt động chính trị, đă từng là sĩ quan quân đội, nhưng nhắc đến ông là mọi người nghĩ đến một nghệ sĩ đa tài. Ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê b́nh. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng.

Trước hết về thơ, đây là lĩnh vực ông dành nhiều tâm huyết nhất, ông luôn trăn trở t́m ṭi hướng sáng tạo nhằm đổi mới diện mạo thơ ca. Nhờ tài năng và bản lĩnh sáng tạo, Nguyễn Đ́nh Thi có một phong cách thơ riêng, độc đáo và hiện đại. Thơ ông dạt dào cảm hứng yêu thương sâu lắng về đất nước "vất vả, gian nan, tươi thắm vô ngần". Đất nước đau thương và quật khởi, con người vất vả và anh hùng là chủ đề quán xuyến trong thơ Nguyễn Đ́nh Thi. Với t́nh cảm gắn bó tha thiết với đất Việt yêu thương, với niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, Nguyễn Đ́nh Thi đă cho ra đời những bài thơ bất hủ như "Đất nước", "Nhớ", "Bài thơ Hắc Hải", "Lá đỏ". Những câu thơ tha thiết lắng đọng giàu chất triết lư chiêm nghiệm về sự kỳ diệu của sự sống, của t́nh yêu, của sức mạnh tiềm ẩn trong con người Việt Nam hiền lành đôn hậu. Thơ Nguyễn Đ́nh Thi hàm súc và giản dị, đằng sau từng lời thơ đều như có dư ba, đều có khả năng gợi không khí, gợi h́nh ảnh và tâm trạng. Câu thơ của ông phóng khoáng tự do, không câu nệ vần, thậm chí không vần nhưng vẫn giàu nhạc điệu. Mỗi bài thơ đều có chất nhạc riêng không lẫn được. Chính những nỗ lực đổi mới thơ ca, chính những t́m ṭi thể nghiệm táo bạo của Nguyễn Đ́nh Thi đă khiến thơ ông trở thành đề tài gây tranh luận ngay từ năm 1949. Trong suốt một thời gian dài sau đó, ông vẫn cô đơn, âm thầm một ḿnh bước lặng lẽ trên con đường thơ mà ông đă lựa chọn. Không ít những lời gièm pha, không ít những lời kỳ thị của đồng nghiệp nhưng ông vẫn tin tưởng, vẫn kiên tŕ một lối đi riêng bởi đó là "niềm tha thiết nhất" của ông. Và thời gian chính là sự khẳng định rơ ràng nhất cho chân lư của cuộc sống. Thực tế phát triển của thơ ca tiếng Việt đă chứng minh những cách tân của ông về nghệ thuật thơ ca là hoàn toàn đúng đắn và hợp quy luật. Cho đến bây giờ thế hệ các nhà thơ trẻ Việt Nam đă, đang kế thừa và phát huy những thành tựu và những hướng t́m ṭi của Nguyễn Đ́nh Thi.

Trong địa hạt văn xuôi, Nguyễn Đ́nh Thi cũng có những đóng góp rất đáng trân trọng. Có thể khẳng định rằng cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Đ́nh Thi gắn bó chặt chẽ với cuộc đời hoạt động cách mạng bền bỉ của ông. Nguyễn Đ́nh Thi là nhà văn nhạy cảm và luôn có mặt trên ḍng thời cuộc của dân tộc. Những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Đ́nh Thi là sự phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến. "Xung kích" - tiểu thuyết đầu tay của ông đă tái hiện sinh động cuộc chiến đấu của một đại đội xung kích trong chiến thắng trung du (1951). Tác phẩm này đă đạt giải thưởng văn nghệ 1951 - 1952. "Thu đông năm nay" (1954), "Bên bờ sông Lô" (1957), "Vào lửa" (1966), "Mặt trận trên cao" (1967), đều là những tác phẩm mang tính thời sự nóng hổi về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Những tác phẩm ấy đă kịp thời cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân dân ta. Nhưng không phải v́ thế mà nó mất đi giá trị văn chương đặc sắc, lâu dài.

Thành công lớn nhất ở thể loại văn xuôi phải kể đến hai tập của tiểu thuyết "Vỡ bờ". Bộ tiểu thuyết này đă tái hiện bức tranh nhiều chiều của xă hội Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945. Nó thể hiện khát vọng của nhà văn muốn vươn tới khái quát một phạm vi rộng lớn từ đô thị cho tới nông thôn, để có thể đạt tới tính chất tổng hợp quá tŕnh vận động của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, thông qua sự thăng trầm của những số phận đại diện cho một số tầng lớp xă hội trước biến cố lớn lao của lịch sử dân tộc. Tuy c̣n một số hạn chế không thể tránh khỏi nhưng bộ tiểu thuyết "Vỡ bờ" vẫn là thành công của Nguyễn Đ́nh Thi trong thể loại tiểu thuyết có tính chất sử thi.

Không những làm thơ, viết truyện mà Nguyễn Đ́nh Thi c̣n là một cây bút viết lư luận, phê b́nh văn học khá sắc sảo và có phong cách riêng. Ông viết nhiều tiểu luận tiến bộ dưới ảnh hưởng của quan điểm văn nghệ mác xít. Tiểu luận "Nhận đường" của ông đă giúp thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ t́m ra con đường đi đúng đắn: "Văn nghệ phụng sự chiến đấu nhưng chính chiến đấu đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, sắt lửa mặt trận đang đúc lên văn nghệ mới của chúng ta" ("Nhận đường"). Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nguyễn Đ́nh Thi cùng với một thế hệ các nhà văn cách mạng như Tô Hoài, Nam Cao, Trần Đăng đă hăng hái tham gia kháng chiến, hoà vào ḍng chảy của lịch sử dân tộc, vừa cầm bút vừa cầm súng đi chiến đấu chống quân thù.

Tuy không phải là một người chuyên viết kịch bản nhưng cho đến nay hàng chục vở kịch của Nguyễn Đ́nh Thi đă để lại dấu ấn sâu sắc trên sân khấu kịch Việt Nam. Ông mang đến cho kịch tiếng nói mới mẻ. Từ vở "Con nai đen" (1961) đến "Hoa và Ngần" (1975), "Giấc mơ" (1983), "Rừng trúc" (1978), "Nguyễn Trăi ở Đông Quan" (1979), "Người đàn bà hóa đá" (1980), "Tiếng sóng" (1980), "Cái bóng trên tường" (1982), "Trương Chi" (1983), và "Ḥn Cuội" (1983 - 1986). Kịch bản nào cũng là những nỗ lực cách tân không mệt mỏi của Nguyễn Đ́nh Thi, nhằm mở rộng dung lượng sức chứa cũng như làm giàu thêm tính văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lư của kịch. Nhiều nhà phê b́nh đă nhận xét về kịch của Nguyễn Đ́nh Thi: đa dạng, giàu chất thơ, nhạc giàu tính triết lư, tưởng tượng, đan xen hài ḥa giữa cái thực và cái ảo khiến cho những tác phẩm của ông mang một dấu ấn riêng biệt, độc đáo. Cũng giống như thơ, số phận những tác phẩm kịch của Nguyễn Đ́nh Thi không hề suôn sẻ. Vở "Con nai đen" có kịch bản từ năm 1961 nhưng đến năm 1990 mới được dàn dựng lần đầu, "Hoa và Ngần" (1974) dựng xong nhưng không được công diễn. Vở kịch "Nguyễn Trăi ở Đông Quan" đầy tâm huyết trăn trở về cuộc đời, đă từng gây ra một hiện tượng trong đời sống sân khấu nói riêng và văn nghệ nói chung những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước, nhưng chỉ được diễn một vài lần rồi bị cấm. Vở "Rừng trúc" được viết từ năm 1979 nhưng phải chờ đợi 20 năm mới được lên sân khấu. Với những nỗ lực của các đạo diễn Nguyễn Đ́nh Nghi và Phạm Thị Thành, vở kịch đă có mặt trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ và đă được tặng Huy chương Vàng Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm 1999. Đây là vở kịch thành công của Nguyễn Đ́nh Thi, gây được tiếng vang lớn không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Phải chăng Nguyễn Đ́nh Thi quá tiên phong nên trở thành xa lạ hay đó là cái giá phải trả của t́m ṭi thể nghiệm đầy tài năng? Là một nghệ sĩ đích thực, niềm khát vọng lớn của Nguyễn Đ́nh Thi là góp tiếng nói chân thật, tâm huyết cho đời, góp phần làm cho đời sống xă hội trở nên nhân đạo hơn. Nhưng chỉ riêng điều được nói lên sự thật đă khó biết bao! V́ vậy, ông phải mượn đề tài lịch sử, những chuyện ông Trần Thủ Độ đời Trần, chuyện ông Nguyễn Trăi thời quân Minh sang đô hộ để nói lên những vấn đề hiện tại. Kịch của Nguyễn Đ́nh Thi giàu chất triết lư, h́nh tượng nghệ thuật đa nghĩa, nhiều ẩn dụ, không dễ hiểu với khán giả b́nh dân. Thế giới nghệ thuật kịch của Nguyễn Đ́nh Thi là một thế giới văn hoá đa dạng nhiều màu sắc, nơi mà dấu vết văn hoá cổ kim, đông tây, dân gian, bác học được hội tụ và toả sáng. Dù đa dạng về sắc thái tính chất nhưng tất cả đều thể hiện t́nh yêu tha thiết của một nghệ sĩ tài năng tâm huyết với đất nước, với dân tộc, với nhân, thể hiện những trăn trở xót xa về số phận con người và những khát vọng sáng tạo nghệ thuật.

Trong rất nhiều danh hiệu của Nguyễn Đ́nh Thi như nhà văn, nhà thơ, nhà lư luận, nhà văn hoá... th́ người ta c̣n phải nhắc đến một danh hiệu cao quư khác, đó là nhạc sĩ Nguyễn Đ́nh Thi, dẫu ở địa hạt âm nhạc Nguyễn Đ́nh Thi chỉ như một chàng lăng tử ghé qua đôi chút. Nhưng chỉ với đôi chút ấy thôi cũng đủ làm nên những kiệt tác bất hủ. Trong một đêm đầu năm 1947, lúc bắt đầu những ngày khói lửa ở Hà Nội, ông đă cho ra đời "Người Hà Nội" - kiệt tác âm nhạc vào hàng hay nhất và lớn nhất của âm nhạc Việt Nam thế kỷ qua. Điều kỳ lạ là kiệt tác ấy lại ra đời trong một điều kiện hết sức đặc biệt. Đó là một đêm ở ngoại thành, bên chiếc đàn piano cũ kỹ trong nhà dân, Nguyễn Đ́nh Thi đă làm rung lên những giai điệu bất diệt. Và "Người Hà Nội" đă ra đời. Không một ai yêu âm nhạc, yêu Hà Nội, yêu Việt Nam nghe bản nhạc ấy mà không thấy rạo rực trong ḷng những cảm giác mănh liệt kỳ lạ. Trong những ngày khởi nghĩa tháng Tám 1945 sục sôi, Nguyễn Đ́nh Thi cũng cho ra đời "Diệt phát xít" - ca khúc đi vào bất tử trong ḷng mỗi người dân đất Việt. Tuy sáng tác không nhiều nhưng ở lĩnh vực âm nhạc, Nguyễn Đ́nh Thi là nhạc sĩ tài hoa và đầy tâm huyết. Chỉ với 2 ca khúc nhưng ông hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu nhạc sĩ, danh hiệu cao quư mà những người yêu âm nhạc tôn vinh ông.

Nguyễn Đ́nh Thi đă qua đời ngày 18.4.2003 nhưng sự nghiệp của ông, trí tuệ và tài năng của ông đă trở thành bất tử. Do những công lao và cống hiến xuất sắc trên nhiều mặt, Nguyễn Đ́nh Thi đă được Đảng và Nhà nước trao tặng: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật.

Trong điếu văn lễ tang Nguyễn Đ́nh Thi do đồng chí Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng Ban lễ tang đọc, đă nêu bật những công lao và đóng góp của Nguyễn Đ́nh Thi:

"Với tài năng tổ chức lănh đạo văn nghệ xuất sắc, một tài năng đặc biệt toả sáng vào lúc cách mạng chuyển sang giai đoạn rất cần sự nhận đường sáng suốt, và với uy tín cá nhân cao, sức tập trung rộng răi và tính kiên định cách mạng, nhà văn Nguyễn Đ́nh Thi có công lao to lớn xây dựng phát triển nền văn học - nghệ thuật của đất nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua(...). Với tài năng sáng tạo đa dạng, nhà nghiên cứu triết học, nhà thơ, nhà văn, kịch tác gia, nhạc sĩ, nhà báo Nguyễn Đ́nh Thi để lại cho chúng ta một di sản văn hoá đồ sộ. Ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật, ông đă để lại những tác phẩm xuất sắc, có sức sống lâu bền, có ảnh hưởng sâu rộng, trở thành niềm tự hào của giới văn học - nghệ thuật nước nhà, được nhân dân giữ ǵn, trân trọng"(1).

Là một nghệ sĩ rất mực tài hoa, nhà lănh đạo văn nghệ xuất sắc nhưng Nguyễn Đ́nh Thi sống thật chân thành, giản dị, khiêm nhường. Cho đến cuối đời ông vẫn tự nhận là:

"Tôi không nói được ḿnh đă trải đời

Không nói được ḿnh đă hiểu người

Không dám nói ḿnh đă biết yêu

Không dám nói ḿnh đă biết sống..."

Sự khiêm tốn đến mức chân thật ấy khiến chúng ta càng kính trọng ông hơn. Nguyễn Đ́nh Thi thật xứng đáng là một nhân cách có bản lĩnh văn hoá, một đại diện tiêu biểu của nền văn hoá Việt Nam hiện đại./.
TÁC PHẪM

Truyện
Xung kích (1951)
Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957)
Vào lửa (1966)
Mặt trận trên cao (1967)
Vỡ bờ (tập I năm 1962, tập II năm 1970)

[sửa] Tiểu luận
Mấy vấn đề văn học (1956)
Công việc của người viết tiểu thuyết (1964)

Thơ
Người chiến sỹ (1958)
Bài thơ Hắc Hải (1958)
Ḍng sông trong xanh (1974)
Tia nắng (1985)

[sửa] Kịch
Con nai đen
Hoa và Ngần
Giấc mơ
Rừng trúc
Nguyễn Trăi ở Đông Quan
Tiếng sóng

Nhạc
Người Hà Nội
Diệt phát xít



Blue_topaz - September 14, 2007 08:52 AM (GMT)
Vũ Khoan
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vũ Khoan (sinh ngày 7 tháng 10 năm 1937) là Phó Thủ tướng Việt Nam từ tháng 8 năm 2002 đến cuối tháng 6 năm 2006. Ông được nhiều người cho là có nhiều đóng góp tích cực trong quá tŕnh đàm phán Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và quá tŕnh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam.


[sửa] Tiểu sử
Vũ Khoan


Phó thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại
Nhiệm kỳ
năm 2002 – năm 2006
Tiền nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm
Kế nhiệm Phạm Gia Khiêm
Sinh 7 tháng 10, 1937
Phú Xuyên- Hà Tây
Ông quê ở huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.

Ông tốt nghiệp Trường Sư phạm Leningrad (Liên Xô). Tŕnh độ: cử nhân kinh tế.

Năm 1956, ông vào công tác ở Bộ Ngoại giao và làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô, lần lượt giữ các chức vụ : Tuỳ viên, Bí thư thứ ba, Bí thư thứ nhất, Tham tán, Tham tán công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô cho đến năm 1982. Từ 1982, là Vụ phó, rồi trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế, rồi trợ lư Bộ trưởng, phụ trách về các vấn đề luật pháp, kinh tế và lănh sự.

Ông giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao từ 1990 đến 1999. Từ 1998 là Thứ trưởng thường trực phụ trách quan hệ với các nước ở khu vực Châu Á - Thái B́nh Dương, quan hệ với ASEAN, ASEM, APEC, công tác nghiên cứu, hợp tác kinh tế, lănh sự, pháp luật, báo chí, đào tạo.

Từ năm 2000 đến năm 2002, ông là Bộ trưởng Bộ Thương mại trong Chính phủ Việt Nam.

Từ năm 2002 đến năm 2006, ông là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về APEC. Sau khi thôi chức Phó Thủ tướng, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cử làm đặc phái viên của Thủ tướng về đối ngoại, Tổng chỉ huy các hoạt động Tuần lễ cấp cao APEC 2006 Hà Nội cuối năm 2006.

Ông c̣n là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, ủy viên Trung ương Đảng từ khóa VII đến khóa IX (1991-2006).

Sự nghiệp của ông là bề dày với các cuộc thương thuyết đàm phán, khởi sự là hoà đàm Paris trong thời gian chiến tranh, sau đó vấn đề người di tản, việc Việt Nam gia nhập ASEAN và khu mậu dịch tự do của khối này, kế đến là Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và một chặng đường dài với cuộc thương thuyết gia nhập WTO.

Ông là quan chức Nhà nước Việt Nam đầu tiên được vào Pḥng Bầu Dục Nhà Trắng gặp gỡ tổng thống Bill Clinton lúc bấy giờ, trong dịp Việt Nam và Hoa Kỳ kư kết Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ.

Ông lập gia đ́nh với bà Hồ Thể Lan, con gái của Giáo sư Bác sĩ Hồ Đắc Di.


Blue_topaz - September 14, 2007 09:17 AM (GMT)
CHẾ LAN VIÊN
Tiểu sử
- Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan
- Sinh ngày: 23-10-1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm Canh Thân)
- Quê gốc ở Cam Lộ, Quảng Trị, song thuở nhỏ sống, học, và làm những bài thơ đầu tiên ở B́nh Định, nên nơi này cũng được xem như quê hương thứ hai của ông.
- Chế Lan Viên đă từng có thơ được in trên báo chí từ những năm 1935-1936. Năm 1937, khi tập thơ Điêu tàn được in ra (lúc ông mới 17 tuổi và là học sinh năm thứ 3 trường Trung học Quy Nhơn), ngay lập tức được dư luận đặc biệt chú ư - và được xem là một trong những nhà thơ nổi tiếng của phong trào thơ mới. Thời gian ở B́nh Định ông cùng nhóm thơ với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được gọi là Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ đất B́nh Định).
- Năm 1939 ông ra học tại Hà Nội, sau vào Sài G̣n làm báo, rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942 ông cho ra đời tập văn Vàng Sao, thơ triết luận về đời với màu sắc siêu h́nh, huyền bí.
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia tại Quy Nhơn rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh, viết bài cho báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung bộ.
- Trong kháng chiến chống Pháp, ôn glàm công tác báochí ở Liên khu 4 cũ.
- Tháng 7-1949 trong chiến dịch ở Tà Cơn, Đường 9 (Quảng Trị) Chế Lan Viên được kết nạp vào Đảng.
- Ḥa b́nh lập lại, ông về Hà Nội. Từ đấy cho đến suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông cho ra đời hàng loạt tập thơ như: ánh sáng và phù sa (1960); Hoa ngày thường - chim báo cáo (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972); Đối thoại mới (1973); và một loạt tác phẩm lư luận, phê b́nh, văn xuôi như Phê b́nh văn học (1962); Suy nghĩ và b́nh luận (1972); Những ngày nổi giận (1966).
- Trong thời kháng chiến chống Mỹ, ông tham gia trong Ban lănh đạo Hội nhà văn Việt Nam, nhiều lần là sứ giả của văn hóa Việt Nam tham dự trên các diễn đàn văn hóa Quốc tế ở Liên Xô (cũ), Pháp, Nam Tư, ấn Độ, Na Uy, Thụy Điển ... Ông cũng từng là đại biểu Quốc Hội bốn khóa liền (từ khóa IV đến khóa VII).
- Sau ngày đất nước thống nhất ông chuyển hẳn vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Và ông vẫn cho ra đời nhiều tập thơ, trong đó có tập Hát theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984); nhiều tập văn xuôi trong đó có Từ gác Khuê văn đến quán Trung tâm (1981), Ngoại vi thơ (1987).
- Ông mất ngày 19-6-1989 tại bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm chọn lọc

* Thơ:
- Điêu tàn (1937)
- Gửi các anh (Hội nhà văn, 1955)
- ánh sáng và phù sa (Văn học, 1960)
- Hoa ngày thường, chim báo băo (Vănhọc, 1967)
- Những bài thơ đánh giặc (Thanh niên, 1972)
- Đối thoại mới (Văn học, 1973)
- Ngày vĩ đại (Văn học Giải phóng, 1976)
- Hoa trước lăng người (Thanh niên, 1976)
- Dải đất vùng trời (Quảng B́nh, 1976)
- Hái theo mùa (Tác phẩm mới, 1977)
- Hoa trên đá (Văn học, 1984)
- Ta gửi cho ḿnh (Tác phẩm mới, 1986)
- Di cảo thơ Chế Lan Viên (1992)

* Văn xuôi:
- Vàng sao (1942)
- Thăm Trung Quốc (bút kư, Văn học, 1963)
- Những ngày nổi giận (bút kư, Văn học, 1966)
- Bác về quê ta (tập văn, Nghệ An, 1972)
- Bay theo đường dân tộc đang bay (Văn Nghệ Giải phóng, 1976)
- Giờ của số thành (bút kư, Lao Động, 1977)
- Những nàng tiên trên mặt đất (Kim Đồng, 1985)

* Tiểu luận - phê b́nh:
- Kinh nghiệm tổ chức sáng tác (Thép Mới, 1952)
- Phê b́nh văn học (Văn học, 1962)
- Suy nghĩ và b́nh luận (Văn học, 1971)
- Nghĩ cạnh ḍng thơ (Vănhọc, 1981)
- Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (Tác phẩm Mới, 1981)
- Nói chuyện thơ văn (Chàng Văn, Văn học, 1960)
- Ngoại vi thơ (Thuận Hóa, 1987)




Blue_topaz - September 14, 2007 09:23 AM (GMT)
THANH HẢI
Tiểu sử

- Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoăn, sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930.
Quê ở Hương Điền, Thừa Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1878 ).
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông công tác tại đoàn Văn công tỉnh, rồi ở lại hoạt động, làm tuyên huấn ở cơ quan khu ủy Trị Thiên thời chống Mỹ cứu nước.
Từ 1975 , ông là Tổng Thư kư Hội Văn nghệ B́nh Trị thiên.
Ông từng là ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Ông mất năm 1980 tại Huế.


Tác phẩm chọn lọc

- Những đồng chí trung kiên (1962);
- Huế mùa xuân (2 tập, 1970-1975),
- Dấu vơng Trường Sơn (1977);
- Mưa xuân đất này (1982);
- Thơ tuyển (1982).

Giải thưởng Nguyễn Đ́nh Chiểu 1965 .

Blue_topaz - September 14, 2007 09:32 AM (GMT)
HỮU THỈNH

Blue_topaz - September 14, 2007 09:35 AM (GMT)
Tiểu sử

Hữu Thỉnh c̣n có bút danh Vũ Hữu tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942 tại làng Phú Vinh, xă Duy Phiên, huyện Tam Dương (nay là huyện Tam Đảo), tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1976).
Hữu Thỉnh sinh ra trong một gia đ́nh nông dân có truyền thống nho học. Đă trải qua tuổi thơ ấu không dễ dàng: ở 6 năm với bác ruột, 10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch .cho các đồn binh Pháp: Vân Tập, chợ Vàng, Thứa, Thanh Vân. . . và bị đánh đập tàn nhẫn. Chỉ thực sự được đi học từ sau hoà b́nh lập lại ( 1954). Tốt nghiệp phổ thông năm 1963 . Vào bộ đội Tăng - Thiết giáp. Đơn vị nhập ngũ đầu tiên là Trung đoàn 202, học lái xe tăng, làm cán bộ tiểu đội, dạy bổ túc văn hoá, viết báo, làm cán bộ tuyên huấn. Nhiều năm tham gia chiến đấu tại các chiến trường Đường 9 - Nam Lào (1970-197 l), Quảng Trị ( 1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau 1975, học Đại học Văn hoá (Trường Viết văn Nguyễn Du khoá I). Từ 1982: Cán bộ biên tập, Trưởng ban thơ, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội . Từ 1990 đến nay, chuyển ngành ra Hội Nhà văn Việt Nam, làm Tổng biên tập Tuần báo Văn nghệ. Đă tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn các khoá 3, 4, 5 , ủy viên Ban Thư kư khoá 3. Hiện nay là Phó Tổng thư kư thường trực Hội, ủy viên thường vụ Đảng uỷ khối Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bí thư Đảng uỷ Đảng bộ cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam. Đại biểu Quốc hội nước cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá X).

Tác phẩm chọn lọc

Các tập thơ:
- Âm vang chiến hào (in chung);
- Đường tới thành phố (trường ca);
- Từ chiến hào tới thành phố (trường ca, thơ ngắn);
- Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung);
- Thư mùa đông
- Trường ca biển.
Ngoài ra c̣n viết nhiều bút kí văn học, viết báo.

Ông đă được Giải 3 cuộc thi báo Văn nghệ 1973 cho bài Mùa xuân đi đón ; Glải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975- 1976, cho bài Chuyến đ̣ đêm giáp ranh, trường ca Sức bền của đất.
Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 cho trường ca Đường Tới thành phố. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 cho tập thơ Thư mùa đông; Gỉải xuất sắc Bộ Quốc pḥng 1994 cho Trường ca biển ; Giải nhất Bộ đại học - Trung học - Chuyên nghiệp và Trung ương Đoàn năm 1991 cho bài Thưa thầy.

Blue_topaz - September 14, 2007 09:49 AM (GMT)
Y Phương
Tên thật: Hứa Vĩnh Sước

Sinh năm: 1948

Nơi sinh: Trùng Khánh, Cao Bằng

Năm 1968 ông nhập ngũ đến năm 1981 về công tác ở Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng. 1993, ông là Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Cao Bằng.

Thể loại: thơ, kịch

Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ; tư duy giàu h́nh ảnh của người dân miền núi.

Các tác phẩm:

Người núi Hoa (1982)

Tiếng hát tháng giêng (1986)

Lửa hồng một góc (1987)

Lời chúc (1991)

Đàn then (1996).

Thơ Y Phương (2002)


Blue_topaz - September 14, 2007 09:54 AM (GMT)
TAGO R.:
(Rabindranath Tagore; 1861 - 1941), nhà văn, nhà văn hoá lớn Ấn Độ. Xuất thân trong gia đ́nh quư tộc Ba La Môn có nhiều người là nhân tài của đất nước. Cha là Đêbenđranat Tago (Debendranath Tagore), triết gia, nhà cải cách xă hội. Thủa nhỏ, Tago nổi tiếng thông minh, tự học, giỏi văn, biết ngoại ngữ; 8 tuổi đă làm thơ, 11 tuổi ahhyes dịch tác phẩm "Macbet" ("Macbeth") của Sêchxpia (W. Shakespeare) ra tiếng Bengali. Tago c̣n soạn nhạc, vẽ và viết kịch..., mặt nào cũng đạt đỉnh cao của tài năng. Tago yêu nước, yêu hoà b́nh, có ḷng nhân đạo sâu sắc. Năm 1901, lập Trường Xantinikêtan (Santiniketan) cho con em nông dân ăn học. Tago coi trọng truyền thống văn hoá Ấn Độ, kết hợp văn hoá Đông và Tây, mở Trường Đại học Vixva - Bharati (Visva - Bharati) (1921), thu hút thanh niên thế giới đến t́m hiểu văn hoá Ấn Độ. Từ 1916, Tago đi thăm nhiều nước để t́m hiểu văn hoá các nước đó. Tago để lại 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, tiêu biểu nhất là "Thơ dâng" (1912); thơ t́nh nổi tiếng: "Người làm vườn" (1914), "Tặng phẩm của người yêu" (1914); thơ trẻ em "Trăng non" (1915); kịch: "Lễ máu" (1890), "Pḥng bưu điện" (1913); tiểu thuyết: "Đắm thuyền" (1906), "Gôra" (1910). Ngoài ra c̣n có hàng ngh́n truyện ngắn, luận văn, bút kí, ca khúc và tranh vẽ, vv.

Tago không phải là nhà văn hiện thực thuần tuư, mà theo phong cách lăng mạn trữ t́nh và được xem là "ngôi sao sáng của thời Ấn Độ Phục hưng". Giải thưởng Nôben (1913) về tập "Thơ dâng".

Blue_topaz - September 14, 2007 10:00 AM (GMT)
NGUYỄN MINH CHÂU :
(1930 - 89), nhà văn Việt Nam. Quê: xă Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1950, nhập ngũ, tham gia hoạt động ở vùng địch hậu Sông Hồng. Từ 1954, viết văn và công tác tại tạp chí “Văn nghệ quân đội”. Trong Kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu vào chiến trường Trị - Thiên - Huế nhiều đợt, cùng sống chiến đấu và tích luỹ vốn sống chuẩn bị cơ sở cho những tác phẩm xuất sắc về chiến tranh. Các tập truyện ngắn: “Cửa sông” (1967), “Những vùng trời khác nhau” (1970), “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1984), “Bến quê” (1985), “Chiếc thuyền ngoài xa” (1988), “Cỏ lau” (xuất bản sau khi Nguyễn Minh Châu qua đời, 1989). Tiểu thuyết: “Dấu chân người lính” (1972), “Miền cháy” (1977), “Những người đi từ trong rừng ra” (1982). Ngoài sáng tác, Nguyễn Minh Châu c̣n viết lí luận phê b́nh, phần lớn các bài viết được tập hợp trong cuốn “Trang giấy trước đèn” (1994).




* Hosted for free by zIFBoards